|
 |
/ Việt Sử
21. Các đời Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng và Trịnh Tráng thường phải đánh nhau luôn với họ Mạc ở phía Bắc. Rồi lại chống nhau với chúa Nguyễn ở phía Nam. Trong khoảng thời gian đó công việc ở trong nước không được sửa sang mấy.
22. Đến đời Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương thì việc chiến tranh đã tạm yên. Lúc đó, các chúa mới có thì giờ định lại phép tắc, luật lệ về học hành, thi cử và thuế khóa ở trong nước. Sách học được khắc trên những bản gỗ rồi in ra thành nhiều quyển cho học sinh, nên từ lúc đó không phải mua sách do Tàu in nữa.
23. Chúa Trịnh Cương còn cho mở trường dạy võ và cứ ba năm lại tổ chức kỳ thi võ một lần. Các võ sinh đều phải thi đua các môn như: bắn cung, múa giáo, đánh kiếm và phi ngựa. Sau đó, các thí sinh lại được hỏi về mưu kế, chiến lược cùng cách dùng binh để xét tài năng của từng người.
24. Sang đời Trịnh Giang, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm thì Trịnh Giang là một vị chúa chơi bời, xa xỉ nhất, nên dân chúng ở khắp mọi nơi đều oán giận. Giặc cướp nổi lên đánh phá lung tung. Trịnh Giang còn cho phép những người giàu có, cứ bỏ tiền bạc ra là mua được quan tước, mà không cần phải có tài năng gì cả!
25. Trong thời vua Lê, chúa Trịnh, ở ngoài Bắc, có nhiều danh nhân, văn sĩ đủ loại như: Đoàn Thị Điểm, Lê Hữu Trác, Lê Quý Đôn v..v... bà Đoàn Thị Điểm, người Bắc Ninh, là một nữ sĩ nổi tiếng về văn thơ. Bản dịch cuốn Chinh phụ ngâm của bà, dịch từ bản Hán văn của Đặng Trần Côn, vẫn còn được truyền tụng cho đến bây giờ.
26. Về mặt y học thì có Hải thượng lãn ông Lê Hữu Trác. Ông con thứ 7 của quan thượng thư Lê Hữu Kiều nên còn được gọi là Chiêu Bảy. Thi đỗ hương cống (như cử nhân bây giờ) nhưng ông lại không thích công danh, không xin ra làm quan như nhiều người. Ông lui về miền núi, đêm ngày đi hái thuốc, tìm cách chữa bệnh nhân cho dân chúng.
27. Ông không theo hẳn các sách thuốc của người Trung Hoa, mà lại chữa bệnh bằng cách gia giảm, chế biến các vị thuốc, tùy theo thủy thổ và thể chất của từng bệnh nhân ở nước ta. Ông bỏ ra 10 năm để tìm tòi, thí nghiệm, nghiên cứu rồi soạn thành một bộ sách thuốc rất quý, gồm 65 quyển gọi là "Lãn ông tâm lĩnh". Đến nay, các thầy thuốc ta còn dùng bộ sách này.
28. Còn nhà bác học biên soạn ra rất nhiều sách quý trong thời Lê Mạt là Lê Quý Đôn, người huyện Duyên Hà (Thái Bình), Lúc còn nhỏ, cậu bé Lê Quý Đôn vừa chơi, vừa học, mà đã nổi tiếng là thần đồng. Lê Quý Đôn rất thông minh và bất cứ sách gì, ông chỉ xem qua một lần, là thuộc lòng ngay.
29. Tương truyền, khi mới 7 tuổi, cậu đang bơi lội ở dưới ao thì có khách đến chơi, hỏi thăm nhà. Cậu vội nhảy lên bờ, không mặc quần áo gì cả, rồi đứng dạng hai chân, dang hai tay ra, đố ông khách biết là chữ gì? Khách không đáp. Cậu cười bảo: "đó là chữ "Thái", dễ thế mà không biết!"
30. Khi về nhà, cậu thấy khách đã ngồi ở trong nhà, đang kể chuyện vừa qua với cha cậu. Cha cậu quát mắng, bắt cậu phải làm ngay 1 bài thơ: "Rắn đầu biếng học" để tạ lỗi với khách. Lê Quý Đôn ngâm liền tám câu thơ, mà câu nào ở trong cũng có tên một con rắn. Khách chịu là tài.
[Tiếp theo]
|
 |
 |
|