Trang Nhà |  Nguyệt San |  Kinh Thánh |  GĐ La Vang |  Lich |  Qũy Từ Thiện |  Việt Sử |  Nối Kết |  Liên Lạc print   
  Dân Chúa
  Sức Khỏe Là Vàng
  Đi Vào Cuộc Đời
  Học Hỏi Để Sống Đạo
  Quảng Cáo
  Tủ Sách Dân Chúa
  Đặt Mua Báo
  Bạn đọc viết
  Tìm Bài
  Video & Audio
  Guest Book
  Impressum
  Hình Ảnh
  ĐHCG Việt Nam
0000198757 visits0000198757 visits0000198757 visits0000198757 visits0000198757 visits0000198757 visits0000198757 visits0000198757 visits0000198757 visits0000198757 visits
Trang NhàDHCGVN32Bài thuyết trình (Phần I)

Bài thuyết trình( phần I)


Đại Hội Công Giáo Việt Nam tại Aschaffenburg, Đức, 11.5.2008
Chủ đề “Mẹ Maria, Nữ Vương các Thánh Tử Đạo”
Nhân dịp mừng 210 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang, 150 năm ở Lộ Đức
và 20 năm phong thánh các Thánh Tử Đạo Việt Nam



    Trước hết tôi xin kính chào ông Bùi Văn Đoàn, Chủ Tịch Liên Đoàn Công Giáo VN tại Đức. Con xin kính chào Antôn Huỳnh Văn Lộ, Tuyên Úy Liên Đoàn và Đại diện các Cha Tuyên Úy bên cạnh Hội Đồng Giám Mục Đức. Con kính chào tất cả quý Cha Tuyên Úy, các Tu sĩ nam nữ. Kính chào quý ông bà cô bác và toàn thể anh chị em giáo dân.
Là một niềm vui lớn cho tôi được đến đây với Đại Hội Công giáo Việt Nam kỳ thứ 32 nầy, để chia sẻ với Đại hội đôi tư tưởng và tâm tình đối với Mẹ Maria, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, để xin Mẹ hướng dẫn chúng ta trên bước đường sống đạo, hành trình về trời sum họp với Đức Mẹ trong đại gia đình các Thánh Nam Nữ, mà Thiên Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần sẽ là Tình Yêu và Hạnh phúc bất diệt của chúng ta.
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Cơ-lô-phát, cùng với bà Maria Mác-đa-la. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà”. Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là Mẹ của anh”. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27).
Phúc âm Thánh Gioan mà chúng ta vừa nghe đưa chúng ta vào chủ đề của Đại Hội Công Giáo Việt Nam năm nay: “Mẹ Maria, Nữ Vương các Thánh Tử Đạo”. Như ban tổ chức đề xướng, chủ đề đại hội của chúng ta cũng lồng trong khung lịch sử nhân dịp mừng 210 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang; 150 Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức; và 20 năm phong thánh các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Một chủ đề rất lớn rất bao la. Nữ Vương các Thánh Tử Đạo, Đức Mẹ La Vang, Đức Mẹ Lộ Đức và Đức Mẹ với các Thánh Tử đạo Việt Nam, cũng đã là những đề tài súc tích và thân thương với người công giáo Việt Nam chúng ta, được đặt trong bối cảnh lịch sử của Giáo hội Việt Nam và thế giới, trong đó luôn có sự hiện diện và can thiệp của tình mẫu tử bao la dịu hiền của Mẹ Maria.
Với mục đích giúp chúng ta thêm lòng yêu mến Mẹ Maria, noi gương Mẹ, nghe lời Mẹ, cũng như nhắc sơ lược gương các Thánh Tử Đạo Việt Nam, tôi xin chia buổi thuyết trình nầy thành hai phần.
Phần một: Chiêm ngắm Mẹ Maria, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo. Nhìn ngắm Mẹ Maria qua cuộc đời của Mẹ. Chúng ta sẽ chiêm ngắm dung nhan Mẹ Maria, Mẹ chúng ta, người Mẹ đẹp tuyệt vời mà Thiên Chúa trong chương trình cứu rỗi nhân loại đã tô điểm để Mẹ trở thành là Mẹ Đấng Cứu Thế. Chúng ta cũng sẽ đưa mắt nhìn gương các Thánh Tử Đạo Việt Nam là những tổ tiên chúng ta trong đức tin đã được Mẹ huấn luyện, để học lòng trung thành với Thiên Chúa và chứng tá tình yêu của chúng ta đối với Người.
Phần hai: Sau khi chiêm ngắm Mẹ Maria và gương các Thánh Tử đạo, và nghe Sứ điệp Mẹ Maria, chúng ta sẽ rút ra một vài đề nghị thực hành cho đời sống người Kitô hữu chúng ta.

PHẦN I- CHIÊM NGẮM MẸ MARIA, NỮ VƯƠNG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO

Mẹ Maria, Nữ vương các Thánh Tử đạo.
Trên đường thánh giá, Mẹ Maria đau đớn âm thầm theo gót con trong đám người la lối hai bên vệ đường, không ai để ý đến Mẹ, người ta xô lấn đạp chân nhau. Chúa Giêsu với thánh giá nặng chĩu trên vai vì tội lỗi chúng ta, đã ngã quị xuống đất, trong khi gượng đứng lên, nhìn ra đám người vô tâm hò hét, bắt gặp đôi mắt Mẹ Maria hiền mẫu đau khổ âm thầm. Tức khắc đôi dòng suối yêu thương cuồn cuộn dâng trào từ đôi tim chia sẻ và hiệp thông trong cơn đau đớn câm lặng. Tình yêu vô bờ bến giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria càng làm tăng sự đau khổ giữa hai tâm hồn. Nhưng Mẹ Maria đã yêu mến đón nhận ý định của Thiên Chúa.
 Mẹ Maria thương Con, nhìn Con với ánh mắt yêu thương trìu mến. Có đau khổ nào hơn khi mẹ thấy con đau đớn mà không làm gì được. Mẹ Maria đau khổ cùng cái đau khổ của Con Mẹ. Trên đồi Can-vê, Mẹ đã đau đớn tột cùng như bị lưỡi đòng đâm qua trái tim mình khi chứng kiến người lính cầm lưỡi gươm đâm thủng trái tim Chúa Giêsu chết treo trên thập giá. Mẹ Maria như cùng chết với Chúa Giêsu trên thập giá để cứu chuộc nhân loại. Mẹ Maria không đổ máu, nhưng tình yêu đối với Con Một, Mẹ đã dâng hiến hết toàn thân và tất cả tình yêu cho Thiên Chúa để làm hy tế cứu chuộc nhân loại: Mẹ Maria đã chết trong lòng cùng với Chúa Giêsu Con Mẹ, Mẹ cùng chết với Chúa để cứu chuộc thế gian: Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc.
Từ lời “Xin vâng” khi Thiên Thần truyền tin, đến khi sinh Con Mộât Thiên Chúa trong hang đá Bê lem nghèo nàn, hôi hám, lạnh lẽo của mùa đông giá rét; từ khi bỏ quê hương chạy trốn giữa đêm khuya, tị nạn khổ cực bên Ai-cập, từ khi dâng Chúa Giêsu trong đền thánh mà Tiên Tri Simon đã tiên báo về Hài Nhi Giêsu: “Cháu nầy làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho nhiều người chống báng... Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,34-35)…, cho đến lúc đau đớn ôm con vào lòng để mai táng, Mẹ Maria đã ghi nhớ mọi biến cố trong lòng, đã suy gẫm, đã hiệp nhất hoàn toàn với cuộc đời và cuộc tử nạn của Chúa Giêsu. Suốt cuộc đời Mẹ Maria là một cuộc tử đạo kéo dài, trong tình yêu và trong sự dâng hiến âm thầm.
Mẹ Maria là người Kitô hữu thứ nhất đã đã tin vào Lời Chúa, tin vào Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế, đã bằng lòng dâng con mình trên thập giá để chuộc tội nhân loại, như Abraham vâng lệnh Chúa sát tế con mình là Isaac. Không một tình yêu của vị tử đạo nào đối với Thiên Chúa hơn tình yêu của Mẹ Maria, từ thánh Têphanô, vị tử đạo đầu tiên, đến các tín hữu của Giáo hội sơ khai, đến các Tông đồ, đến các Thánh Tử đạo Việt Nam và cho đến vị tử đạo cuối cùng trước ngày tận thế. Mẹ là vị tử đạo trên hết trước hết và tuyệt đối vì sự tử đạo của Mẹ Maria có giá trị cứu chuộc nhân loại cùng với Con Mình là Đức Giêsu Kitô.
Mẹ đã đứng dưới chân thập giá, gần bên con Mẹ, hiệp thông đau đớn với Con để nâng đỡ bằng tình mẫu tử, bằng sự hiện diện trong lúc Con khổ đau và sắp chết để cứu chuộc nhân loại. Mẹ ở đó, nín lặng, uống tận chén đắng với con mình để chia sẻ tận cùng khổ đau với Con. Mẹ đã chết trong lòng với con mình.
Đối với các vị Tử đao, là con cái mà Mẹ đã nhận qua lời trối của Chúa Giêsu trên thập giá, chắc chắn Mẹ cũng đã hiện diện, ở gần bên để nâng đỡõ, để ban sức mạnh và ơn can đảm,  khi họ chịu đau đớn, bị hành hạ ở pháp trường để tuyên xưng đức tin và tình yêu của mình với Chúa Giêsu: Mẹ Maria là Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo.

Đức Mẹ là Đấng thiên sai trong Cựu Ước
    Tân Ước, Cựu Ước, cũng như Thánh Truyền đều trình bày sứ mệnh của Mẹ Đấng Cứu Thế trong nhiệm cục cứu rỗi ngày càng sáng tỏ. “Thật vậy, trong Cựu Ước đã phát tả một lịch sử cứu rỗi trong đó ta thấy cuộc giáng lâm của Chúa Kitô trên thế giới được chuẩn bị qua một quá trình tiệm tiến... Dưới ánh sáng mạc khải, ta thấy Đức Mẹ đã được tiên báo trong lời Thiên Chúa hứa với nguyên tổ vừa sa ngã phạm tội về cuộc chiến thắng trên con rắn: “Ta sẽ gây mối thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn gót nó” (St 3,15).
Đức Maria cũng được tiên báo là Nữ Trinh sẽ thụ thai và sinh một Người con có tên là Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng) (Is 7,14, Mich 5,2-3; Mt 1,22-23). Chính Mẹ vượt cao trên các người nhu hạ và nghèo nàn của Thiên Chúa, của những người tin tưởng chờ mong và lãnh nhận được ơn cứu rỗi nơi Thiên Chúa” (LG 56).

Đức Mẹ trong ngày truyền tin
    “Chúa Cha đầy lòng thương xót đã muốn Người Mẹ tiền định nầy ưng thuận sự nhập thể của Con Cha trước, để như trước kia một người nữ đã mang án chết về, thì ngày nay cũng một Người Nữ mang sự sống đến. Ý muốn ấy của Chúa Cha đã mang lại một uy tín trác triệt cho Mẹ Chúa Giêsu, người Mẹ đã trào đổ cho thế gian chính Sự Sống có sức canh tân tất cả và được Thiên Chúa ban những đặc ân xứng đáng với sứ mạng cao trọng ấy” (LG 56).
    Ngày Truyền Tin, Mẹ đã trả lời Thiên sứ: “Đây tôi là nữ tỳ của Chúa, xin vâng lời Sứ Thần” (Lc 1,38). “Như vậy, Đức Maria là Nữ Tử của Adong và vì ưng thuận lời Thiên Chúa mà nên Mẹ Chúa Giêsu, và vì đem hết tâm hồn tròn đầy không vương tội lỗi mà tán thành thánh ý cứu chuộc của Thiên Chúa, nên đã hiến phó trót thân mình cho thân thế và sự nghiệp của Con Mẹ như một nữ tỳ của Chúa, giúp công vào mầu nhiệm cứu chuộc cùng Con Mẹ và dưới quyền Con Mẹ và trong hiệp thông với Người, trong ơn nghĩa của Thiên Chúa toàn năng” (LG 56).
“Các Thánh Giáo phụ suy luận rất đúng rằng Mẹ Maria không phải chỉ được Thiên Chúa thu dùng một cách thụ động, nhưng đã đồng công vào việc cứu rỗi loài người bằng một lòng tin tưởng và vâng phục tự do. Thánh Irênê nói là Mẹ Maria đã “vì vâng phục mà trở thành nguyên nhân cứu rỗi cho mình và toàn thể nhân loại”.
“Nhiều thánh Giáo phụ, trong các bài giảng thuyết, cũng cùng với thánh Irênê xác nhận rằng: “Mẹ Maria vì vâng phục mà tháo gỡ được cái nút bất tuân của  Evà, điều mà Evà đã buộc bó lại vì không tin, thì Nữ Trinh Maria đã tháo cởi vì tin phục”, và các ngài đã so sánh Maria với Evà mà ca tụng Maria là “Mẹ kẻ sống” (T. Epiphane)” (LG 56).

Đức Mẹ Maria trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu
    “Trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu, Đức Mẹ cũng xuất hiện tỏ tường ngay từ đầu, khi ở tiệc cưới thành Cana xứ  Galilê, vì cảm thương xúc động, Mẹ đã dùng quyền cầu bầu mà giới thiệu phép lạ đầu tiên của Chúa Giêsu (Ga 2,1-11). Trong cuộc di chuyễn giảng thuyết của Chúa, có lần Mẹ đã lĩnh nghe những lời mà Con Mẹ nói để tuyên dương những người lắng nghe và vâng giữ lời Chúa là có phúc như Mẹ đã từng tuân giữ vì Chúa muốn nâng cao Nước Chúa lên khỏi những lập luận và ràng buộc của huyết nhục” (LG 58).
Phúc âm trình thuật: “Mẹ và anh em Đức Giêsu đến, đứng ở ngoài, cho gọi Người ra. Lúc ấy đám đông đang ngồi chung quanh Người. Có kẻ nói với Người rằng: Thưa Thầy, có Mẹ và anh em chị em Thầy đang ở ngoài kia đang tìm Thầy! Nhưng Người đáp lại: “Ai là Mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Người rảo mắt nhìn những người chung quanh và nói: “Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em, chị em tôi, là mẹ tôi” (Mc 3,31-35). Xem ra Chúa Giêsu phớt lờ không thèm để ý đến Mẹ, nhưng lời của Người là lời khen Mẹ mình một cách tuyệt đối, vì không ai thi hành ý muốn Thiên Chúa hơn Mẹ Maria cho đến lúc bấy giờ và cho đến ngày tận thế.
    “Cũng vậy, Đức Nữ Đồng Trinh đã tiến mạnh trên tiến trình đức tin, và khắng khít hợp nhất cùng Con Mẹ cho tới cực hình thánh giá, nơi Mẹ đã hiên ngang đứng vững vì có ý muốn của Thiên Chúa (Ga19,25), Mẹ đã chịu đau khổ dữ dằn cùng Con duy nhất Mẹ, mà đem hết tâm hồn từ mẫu liên kết cùng lễ Hy sinh của Con Mẹ dâng lên, vì Mẹ đã hết tình yêu mến đồng ý cùng lễ sát tế Hy vật từ lòng Mẹ sinh ra. Sau cùng Mẹ đã được Chúa Giêsu lúc hấp hối trên thánh giá trối trao làm Mẹ môn đệ qua những lời: “Hỡi Bà, đây là con Bà!” (Ga 19,26-27) (LG 58). Chúa Giêsu đã trối tất cả chúng ta cho Mẹ Maria. Từ lúc đó Mẹ Chúa Giêsu đã trở thành Mẹ chúng ta.

Đức Mẹ Maria sau ngày Chúa lên Trời
    Sau khi Chúa Giêsu lên trời, các Tông đồ đã tụ tập lại với nhau, “đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ và với Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu...” (Cv 1,14). Nghĩa là chúng ta thấy Đức Maria cũng thiết tha cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Linh, Đấng trước kia trong ngày Truyền tin đã ngự xuống lòng Mẹ. Sau hết, Đức Nữ Trinh Vô Nhiễm, được giữ gìn miễn nhiễm mọi vết nhơ tội tổ truyền, sau khi sống hết cuộc đời dương thế, được triệu về trời cả hồn và thể xác (Pio XII), được Chúa tôn vinh làm Nữ Vương muôn loài, để được hòa hợp mật thiết cùng Con Mẹ là Chúa các Chúa (Apoc 19,16) Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết (Pio XII)” (LG 59). Khi về trời rồi, Đức Mẹ “thông ban ơn Thiên Chúa” xuống cho con cái loài người chúng ta.

Đức Maria, Mẹ đẹp tuyệt vời.
    Đức Mẹ hiện ra cho em Bernadette Soubirous, bé gái 14 tuổi tại hang đá Lộ Đức. Từ ngày 11.2 đến ngày 16.7.1858 Đức Mẹ hiện ra tất cả 18 lần. Trong bức thư đề ngày 28.5.1861 gửi Cha Gondrand, Bernadette cho biết  cô đã thấy một Bà hiện ra thật đẹp mà không thể nào tả được. Sau đó vào năm 1864 một nhà điêu khắc nổi tiếng được mời đến để khắc tượng Đức Mẹ theo như Bernadette diễn tả. Khi tạc tượng xong, ông đưa cho Bernadette xem và hỏi có giống Đức Mẹ đã  hiện ra cho cô hay không, thì Bernadette thất vọng thốt lên cách đơn sơ: “Thưa không, không giống chút nào cả. Đức Mẹ đẹp hơn nhiều!”.    
Cái đẹp của Mẹ Maria mà Bernadette thấy là ánh quang sáng ngời của cái đẹp tuyệt vời mà Thiên Chúa Cha từ đời đời đã chọn Mẹ Maria trên hết mọi người nữ, hơn các thiên thần và các thánh, đã tô điểm cho Mẹ mọi ân phúc, đã cho Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội không bị tì ố của tội tổ tông, để xứng là hôn thê của Chúa Thánh Thần, để cung lòng tinh khiết của Mẹ là đền đài nguy nga đón nhận Ngôi Hai Thiên Chúa Nhập Thể sinh ra làm người, để toàn thân và máu huyết đồng trinh của Mẹ nuôi dưỡng Đấng Cứu Thế.
    Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Piô IX năm 1854 đã long trọng tuyên quyết như sau: “Thật xứng hợp việc Đức Maria luôn chiếu ngời ánh quang thánh thiện hoàn hảo nhất, Mẹ được bảo vệ tinh tuyền khỏi vết nhơ của tội tổ tông, và như vậy Mẹ toàn thắng trên con rắn xưa, Mẹ rất đáng tôn kính, là Đấng mà Thiên Chúa Cha quyết định trao gửi Con Một mình... Trong cung lòng của Mẹ, Chúa Thánh Thần, do quyền thiên của mình, đã cho thụ thai Đấng mà chính Người (Chúa Thánh Thần) bởi đó mà ra” (Ineffabilis Deus).
Qua mọi thế hệ, có biết bao nhiêu lời kinh, tiếng hát, ca ngợi sự đẹp đẽ của Mẹ Maria. Kinh Cầu Đức Mẹ là những lời tuyên xưng ca tụng mà Giáo Hội và con cái Mẹ tung hô dâng lên Mẹ: “Rất Thánh Nữ Đồng Trinh trên hết các kẻ đồng trinh... Đức Mẹ thông ơn Thiên Chúa... Đức Mẹ cực thanh cực tịnh. Đức Mẹ tuyền vẹn mọi đàng... Đức Bà là gương nhân đức... Con cái Việt Nam qua các thi ca và thánh nhạc cũng đã góp phần quan trọng tung hô Mẹ Maria và phát huy nơi giáo dân lòng yêu mến ca tụng Đức Mẹ. Như bài thánh ca “Mẹ đẹp” của Nguyễn khắc Xuyên ca tụng Mẹ Maria : “Mẹ ánh bình minh dâng lên sáng ngời! Màn tối trần gian không hề vương gót chân. Mẹ chính vầng trăng trong sáng giữa trời! Tà áo Mẹ như tuyết rơi đỉnh non ngàn”. Tuyệt đẹp! Bài thánh ca “Mẹ tuyệt mỹ” của Kim Long: “Mẹ tuyệt mỹ không hề vấn vương tội tình, diễm lệ như ánh bình minh. Mẹ hoàn toàn trong sạch trinh khiết như muôn hoa tươi xinh”. Tuyệt mỹ!
Nói tắt một lời, Đức Mẹ là kỳ công tuyệt vời của Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Các thánh nói rằng: “Thiên Chúa có thể làm ra một thế giới tốt hơn thế giới nầy, mà không thể làm nên một người Mẹ hoàn hảo hơn người Mẹ của mình”..
Thiên sứ Gabriel đã chào kính Mẹ và mừng Mẹ đầy ân phúc: “Kính mừng Maria, Bà đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Lời chào mừng nầy ca tụng rằng Mẹ Maria tuyệt hảo, tuyệt vời, tuyệt mỹ, Thiên Chúa đã tô điểm Mẹ hết mức rồi không còn thiếu gì nữa để đáng làm Mẹ Thiên Chúa.
    Chính Mẹ Maria đã cảm nhận rõ ràng ân huệ vô cùng lớn lao đó, nên đã khiêm nhường thẳm sâu nhìn nhận rằng mình được Thiên Chúa ban đầy ơn phúc, và đã bộc phát từ đáy tâm hồn lời cảm tạ Chúa qua lời kinh Magnificat mà chúng ta quen thuộc và đã nhiều lần suy ngắm:
“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa. Thần trí tôi hớn hở vui mừng. Vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới. Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả. Đời nọ đến đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người”.

Đức Maria là Mẹ chúng ta
    “Một ngày kia, thánh Gioan Bosco rao giảng về vinh quang của Mẹ Maria tại nhà thờ chính tòa Torino. Giữa lúc đang thao thao bất tuyệt, ngài bỗng dừng lại thinh lặng một hồi lâu rồi đặt câu hỏi với cử tọa như sau: “Ai trong chị em có thể nói cho tôi biết Đức Mẹ là ai”?
    Không có tiếng trả lời, thánh nhân phải lập lại câu hỏi đó đến ba lần mới nghe được một tiếng yếu ớt từ phía cuối nhà thờ: “Thưa Cha, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa”. Thánh Gioan Bosco gật đầu nói tiếp: “Đúng thế, Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng nói như thế vẫn chưa đủ. Tôi muốn anh chị em kể hết những tước hiệu Mẹ Maria”. Liền sau đó, cử tọa bắt đầu kể ra tất cả các tước hiệu của Đức Mẹ: Mẹ là cửa thiên đàng, Mẹ là Đấng an ủi kẻ có tội, Mẹ là Đấng phù trợ các tín hữu, là Đấng cứu chũa kẻ bệnh tật, v.v...
    Sau khi nghe kể hết những tước hiệu mà người ta gán cho Đức Maria, thánh nhân mỉm cười nói tiếp: “Đức Maria là tất cả những gì anh chị em vừa kể ra, nhưng vẫn chưa hết. Tôi muốn biết thêm về Đức Maria...”.
    Chờ mãi không thấy thêm câu trả lời nào, sau cùng thánh nhân mới nói: “Tôi xin được nói với anh chị em Đức Maria là ai: Đức Maria là Mẹ chúng ta”. Phải, Mẹ chúng ta. Đó là điều đáng nói nhất về Mẹ Maria. Trên trần gian nầy, không ai có thể gần gũi thiết thân với chúng ta bằng Mẹ chúng ta, không ai yêu thương chúng ta hơn Mẹ chúng ta. Cũng thế, trên thiên đàng không có vị thánh nào yêu thương chúng ta và sẵn sàng lắng nghe chúng ta cho bằng Mẹ Maria...” (Đài Chân Lý Á Châu, Lẽ Sống, tr. 206).
Thiên Chúa là Cha chúng ta yêu thương chúng ta đến nỗi ban Con Một của mình để cứu chuộc chúng ta. Con Một Thiên Chúa nầy trong giờ hấp hối trên thánh giá để hoàn tất sứ mệnh Chúa Cha đã trao phó, đã long trọng trối phó Mẹ của Người cho chúng ta: “Thưa Bà, đây là con của Bà”... “Đây là Mẹ của anh”. Chúa Giêsu, sau khi đã hiến chính mình làm của ăn thiêng liêng cho chúng ta, đã trao ban cho chúng ta điều mà Người yêu quí nhất trần gian là chính mẹ của mình. Cử chỉ nầy bao gồm hai ý nghĩa: một là do lòng hiếu thảo đối với mẹ mình theo giới răn thứ bốn thảo kính cha mẹ; hai là Chúa Giêsu công khai tuyên bố Mẹ Maria là Mẹ chúng ta, để Người chăm sóc bảo vệ yêu thương chúng ta, và để chúng ta yêu mến chạy đến Mẹ để được Người ấp ủ chở che. Thánh Gioan dưới chân thập giá đã đại diện chúng ta lãnh nhận lời trối cuối cùng của Đức Giêsu. Trong cơn đau đớn tột cùng nhìn Con mình đang bị treo trên thập giá, Mẹ Maria đã sinh hạ chúng ta, đã trở thành Mẹ chúng ta.
 Kính thưa Ông Bà Cô Bác Anh Chị em, một người nữ tuyệt vời như thế, một kỳ công tuyệt hảo, tuyệt mỹ của Thiên Chúa Ba Ngôi lại là Mẹ của chúng ta, mà chúng ta không hãnh diện và sung sướng hay sao? Qua Bí tích Rửa tội, chúng ta đã trở thành con Thiên Chúa, rồi trên thánh giá Chúa Giêsu trối chúng ta cho Mẹ Maria và để chúng ta thương mến Người. Chúng ta không cảm động sung sướng trong tâm hồn và trong thân thể xác chúng ta sao? Là ân huệ vô cùng trọng đại, ân huệ lớn thứ hai sau ơn được làm con Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói: “Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: “Aùp-ba! Cha ơi! Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quan với Người” (Rm 8,14-18).

Mẹ Maria, Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc
Mẹ Maria đã được Thiên Chúa ban đầy ân phúc để trở thành Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc với Chúa Kitô. Tiếng “Xin vâng” của ngày truyền tin là khởi điểm tiến trình ý thức cộng tác hoàn toàn của Mẹ Maria vào công trình cứu chuộc của Chúa Cứu Thế. Phúc âm thánh Matthêu nói về Mẹ Maria: “Người hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51). Những điều ấy là lời Thiên sứ Gabriel truyền tin, những biến cố lạ lùng ngày sinh hạ Chúa Giêsu; các thiên thần trên trời vui mừng ca hát khi Chúa Giêsu sinh ra; các mục đồng thờ lạy, ba vua phương đông đến thờ lạy và dâng lễ vật; những lời của tiên tri Simeon về Hài Nhi Giêsu: “Thiên Chúa sẽ đặt cháu bé nầy làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu nầy còn là dấu hiệu cho người đời chống báng... Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu lòng bà”  (Lc 2, 34-35). Và lời của thiếu nhi Giêsu 12 tuổi: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao? ( Lc 2,49). Tất cả những điều đó Mẹ Maria đã giữ trong lòng và hằng ngày suy gẫm để hiểu thâm sâu mầu nhiệm cứu chuộc của Thiên Chúa.
Cana. Trong những năm Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng nước trời, Đức Mẹ cũng theo và lắng nghe lời Chúa. Đức Maria đã dùng vai trò làm Mẹ của mình mà can thiệp để Đức Giêsu làm phép hóa nước thành rượu tại Cana để cứu giúp gia đình đôi trẻ tân hôn. Những lời đối thoại vắn tắt của thân mẫu Đức Giêsu nhưng có một mãnh lực không thể cưỡng lại đối với Đức Giêsu. Thánh Gioan ghi: “Thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: “Họ hết rượu rồi”. Đức Giêsu đáp, Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi ? Giờ tôi chưa đến”.
Xem dường như Chúa Giêsu cứng cỏi và lạnh lùng đối với lời của thân mẫu. Dù vậy thân mẫu Người nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ làm theo” (Ga 2,3-6). Dù giờ chưa đến, Đức Giêsu đã phải vâng lời thân mẫu mà làm phép lạ đầu tiên trước giờ đã định. Điều nầy cho chúng ta thấy thế lực của Đức Mẹ đối với Con mình trên thiên đàng: Thế lực của Nữ Vương Thiên đàng bên Ngôi Hai Thiên Chúa.
Ở Cana Đức Mẹ kín đáo, tế nhị, quan sát và thấy thiếu rượu mà có lẽ không ai để ý thấy, Mẹ đã can thiệp vào một việc phần xác, một việc xã hội, thì  chúng ta càng phải vững tin hơn nữa: Mẹ sẽ nhìn thấy những nhu cầu thiêng liêng của chúng ta, mà ngay chúng ta cũng thấy, không biết. Và như vậy chắc chắn Mẹ Maria sẽ can thiệp, để nâng đỡ, ủi an, ban ơn thiêng liêng cho chúng ta, nhất là khi thấy chúng ta đang đau khổ, đang trong cơn nguy biến phần hồn, đang đi con đường rơi xuống hỏa ngục đời đời.
Trong cuốn sách khổ lớn, dày 1200 trang của Cha Attilio Galli với tựa đề là “Mẹ của Giáo Hội trong Năm Châu” (Madre della Chiesa nei cinque Continenti, ed. Segni 1997) tác giả đã cho thấy Mẹ Maria hiện diện trong khắp năm châu với loài người, cho thấy Mẹ Maria là vị Thừa Sai thứ nhất của Con mình nơi các dân tộc trên địa cầu nầy trong suốt 20 thế kỷ qua. Mẹ đã thi hành chức vụ làm mẹ ngay khi thành lập Giáo hội, Mẹ đã hiện diện giữa các Tông đồ để nâng đỡ các ngài chờ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Sau khi lên trời cả hồn lần xác, Mẹ Maria không ngừng hoạt động trên cho cái loài người, trên mọi nẻo đường trần gian. Trên mọi lục địa, trên mỗi quốc gia đều có bóng dáng, sự hiện diện hiền mẫu, sự can thiệp ban ơn cứu giúp của Mẹ Maria.

Lòng ưu ái của Mẹ Maria đối với Giáo hội Việt Nam
Giáo hội chỉ công nhận chính thức một vài nơi Đức Mẹ hiện ra mà chúng ta biết như Lộ Đức,  Fatima, hay gián tiếp công nhận những dữ kiện rao truyền về Đức Mẹ hiện ra cách đây 210 năm tại La Vang hay ở những nơi khác. Trong cuốn sách mà chúng tôi vừa nhắc đến, ngoài sử tích Đức Mẹ hiện ra tại La Vang năm 1798, tác giả cũng nói đến việc Đức Mẹ hiện ra năm 1631 mà không thấy lịch sử truyền giáo tại Việt Nam nhắc đến.
Phúc trình năm 1631 của Cha Cristoforo Borri về công việc truyền giáo của các Cha Dòng Tên ở Việt Nam, cho thấy Mẹ Maria đã có cử chỉ yêu thương quan tâm đặc biệt đến con cái Việt Nam, vì Đức Mẹ đã một lần hiện ra để can thiệp trực tiếp cho việc truyền giáo. Cha Borri ghi như sau:
“Một ngày kia, trong khi chúng tôi đang ở trong nhà, chúng thấy một đoàn rước từ xa tiến đến dần dần, một đoàn người rất đông gồm toàn đàn ông, họ tiến lại gần chúng tôi. Khi họ đến nơi, chúng tôi hỏi họ muốn gì. Họ trả lời rằng họ đã chứng kiến thấy một Bà rất đẹp hiện ra, ngồi trên ngai mây sáng láng bao quang, Bà ấy nói với họ là phải đi đến Muecman gặp các Cha để các ngài dạy đạo là đường dẫn đến sự hiểu biết Đấng Cứu Thế từ trời. Sau khi tạ ơn Đức Mẹ đã hướng dẫn những người đó, chúng tôi dạy giáo lý cho họ, rửa tội tất cả và cho mọi người về nhà lòng hân hoan hạnh phúc” (sđd, tr. 565).
Ngay từ đầu lịch sử truyền giáo tại quê hương Việt Nam chúng ta, các Cha thừa sai đã truyền lại cho tổ tiên chúng ta một nét đặc thù của lòng đạo đức chắc chắn nhất: đó là lòng tôn sùng Đức Mẹ. Thánh Phanxicô Xaviê, vị thừa sai tiên khởi miền Viễn Đông, khi giảng đạo, một tay cầm ảnh chuộc tội, một tay cầm ảnh Mẹ Maria. Lòng sùng kính Đức Mẹ là con đường tu đức hết sức lành mạnh, hợp với chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Đức Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu, là Mẹ Thiên Chúa, là Mẹ của người tín hữu. Chạy đến Đức Mẹ để xin ơn phù giúp để nhờ Mẹ đưa đến với Chúa Giêsu thì không gì phù hợp và bảo đảm bằng. Thánh Bênađô dạy: “Ad Iesum per Mariam”, nhờ Mẹ Maria để đến với Chúa Giêsu. Thánh nhân nói: “Thiên Chúa muốn rằng không có gì mà chúng ta có mà không qua tay Đức Mẹ”.
Giáo lý nầy rất thích hợp với tâm tình người Việt chúng ta. Chúng ta thích qua trung gian người nầy người nọ, những người có uy tín thân cận với vua chúa để đến với vua chúa quan quyền. Để đến với Chúa Giêsu thì không gì công hiệu hơn nhờ chính Mẹ của Chúa giới thiệu. Một món quà bé nhỏ đơn sơ của chúng ta dâng lên Thiên Chúa sẽ có giá trị và đẹp lòng Chúa biết bao nếu nó được đưa đến do tay của Nữ Vương các Thiên Thần, của Nữ Vương các Thánh Tử Đạo, của các Thánh Đồng Trinh, của Nữ Hoàng Vũ Trụ. Người tín hữu Việt Nam thường nói: “Nhờ ơn Đức Mẹ”. Điều nầy diễn tả mối quan hệ đơn sơ thân mật tự nhiên giữa chúng ta với Mẹ Maria, người Mẹ rất yêu thương dịu dàng.  Ai trong chúng ta không cảm thấy êm dịu ngọt ngào khi gọi “Mẹ”.  “Lòng mẹ bao la như biển thái bình dạt dào”.
Cha Đắc Lộ trong bài phúc trình năm 1650 về kết quả truyền giáo của các Cha Dòng Tên tại Bắc kỳ đã nói đến con số 300 ngàn tín hữu và 200 nhà thờ, và đã nói đến một phương pháp truyền giáo rất tốt là tặng cho các người tân tòng Việt Nam một ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh bồng Chúa Hài Nhi, “để họ cúi đầu xuống đất để thờ lạy Chúa trước hết là Thiên Chúa Ba Ngôi duy nhất, rồi đến Đức Mẹ Maria, Mẹ của Thiên Chúa”.
    Thánh Gioan Théophan Vénard Ven thuộc Hội Thừa Sai Ba Lê, viết thư cho anh mình ở Pháp, nói rằng ngài rất thích nghe bổn đạo Việt Nam cầu kinh. Ngài viết: “Thật là một hòa điệu làm tôi cảm động hơn các bản nhạc hay ở Aâu châu. Tôi rất thích nghe hát Kinh Cầu Đức Bà, nhất là Kinh cầu rất thánh Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ” (Madre della Chiesa nei cinque Continenti, tr. 567).
    Còn Cha Gendreau, một nhà truyền giáo thuộc hàng tổ phụ ở miền Bắc, đã cảm động chảy nước mắt khi nhắc đến những kỷ niệm truyền giáo của mình. Trong cuốn sách tựa đề là: “Lòng sùng kính Đức Mẹ Lộ Đức trong Hội Thừa Sai Ba Lê” (Le Culte de Notre Dame de Lourdes dans la Société des Missions Etrangères, éd. Téqui, Paris 1910), Cha có ghi những chứng từ thật cảm động và đầy tràn hy vọng như sau: “Các tín hữu miền Bắc, gọi Đức Đức Maria là Thánh Mẫu, họ kể Đức Mẹ như Đấng phù trợ tất cả cuộc đời tôn giáo của họ. Vì lẽ đó họ có lòng sùng kính rất lớn về chuỗi Mân Côi, là kinh nguyện mà họ yêu thích. Cả đến giữa các cơn bắt đạo, trong tù ngục, đi ra pháp trường, họ đều lần hạt Mân Côi. Những lời van xin kêu lên Đức Mẹ luôn luôn phát ra từ môi miệng của họ. Chúng tôi cho là không quá đáng khi quả quyết rằng lòng sùng kính Đức Thánh Nữ Đồng Trinh và chuỗi Mân Côi không những đã bảo vệ đạo ở miền Bắc khỏi đổ nát tan tành, mà trái lại còn làm cho nó sinh động và vững mạnh hơn trước thời bắt đạo. Và đây là sự xác tín của tôi: Bị cảm động trước lòng hiếu thảo đạo đức của các con cái (Việt Nam), Mẹ Maria đã bẻ gẫy các ý đồ của kẻ thù chúng ta trong quá khứ, Mẹ cũng sẽ làm như vậy trong tương lai” (sđd, tr. 15; Madre della Chiesa nei cinque Continenti, tr.567).

Mẹ Maria, Nữ Vương các Thánh Tử Đạo Việt Nam
    Hang toại đạo Priscilla ở Roma, là hang toại đạo cổ nhất tại Rôma. Vào thế kỷ I khi các hoàng đế Rôma bắt đạo, các Kitô hữu Rôma phải chạy trốn trong các hang toại đạo. Trong hang toại đạo Priscilla người ta tìm thấy bức vẽ trên tường trình bày Đức Mẹ bồng Chúa Hài Nhi. Bức họa nầy minh chứng rằng các thánh tử đạo ngay từ đầu của lịch sử Giáo hội đã biết chạy đến Đức Mẹ, đã vẽ ảnh Đức Mẹ trên tường để cầu nguyện, để nhìn lên Mẹ, để kêu cầu và để xin ơn chiến đấu trung thành giữ vững đức tin.
Trong sách Giáo lý quốc ngữ của Cha Đắc Lộ xuất bản tại Quảng Đông 1774, có ghi bản kinh “Kính Mừng” cổ xưa mà cha ông chúng ta, nhất là các Thánh tử đạo đã từng đọc khi ra pháp trường như sau:
    H: Kinh nào Hội Thánh quen dùng mà cầu cùng Đức Chúa Bà?
T: Kinh Ave Maria, đầy galasa, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc hơn mọi nữ và Jeju, con lòng Bà gồm phúc lạ. Santa Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, khi này cầu cho chúng tôi là kẻ có tội, đến khi chết lại cầu giữ. Amen”.
    Nhìn gương các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta thấy các ngài là những người đã có lòng yêu mến Đức Mẹ đặc biệt.
Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, quen gọi là Năm Thuông, Trùm họ Gò Thị, rất có lòng kính mến Đức Mẹ, xây một đài kính Đức Mẹ trong vườn nhà, bị một đứa cháu hoang đàng tố giác, bị bắt và phát lưu vào miền Nam ở Mỹ Tho, bị chết rũ tù sau khi đọc bảy kinh Thánh vịnh thống hối và các kinh kính Đức Mẹ, miệng mấp máy thánh danh Mẹ Maria, “Người Mẹ quí yêu suốt đời”.
    Thánh linh mục Phanxicô Bắc (tên thật là Néron, người Pháp) ăn chay các ngày lễ vọng kính Đức Mẹ, đã can đảm chịu chém đầu tại Sơn Tây.
Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ là một Lý trưởng, sống liêm khiết, mỗi tối tụ tập phu tuần đọc 50 kinh Kính mừng kính Đức Mẹ trước khi đi công tác. Bị xử trảm tại pháp trường Bảy Mẫu, Nam Định.
    Thánh Đa Minh Đinh Viết Dụ, khi bị bắt chỉ mang trên mình hành trang duy nhất là tràng chuỗi Mân Côi.
    Thánh linh mục Phêrô Dumoulin Borie Cao ghi trong nhật ký: “Xin Mẹ giúp con theo con đường của ơn kêu gọi. Xin cho con được đau khổ vì Đức Kitô, được đón nhận ngành lá tử đạo và về đến bến vinh quang”.
Thánh Philipphê Phan Văn Minh trước khi bị chém đầu tại pháp trường Đình Khao ở Vĩnh Long, đã trao cho ông xã Phượng đang đứng bên cạnh chực thấm máu cỗ tràng hạt. Ngài đã cầu nguyện lớn tiếng: “Lạy Mẹ Maria, xin cầu cho chúng con trong giờ lâm chung nguy hiểm nầy”.
Thánh linh mục Phanxicô Federich Gilde Tế, thuộc Dòng Đa Minh, người Tây Ban Nha, nhận mình là đứa “con điên của Đức Mẹ”.
    Thánh linh mục Gioan Charles Cornay Tân, thuộc Hội Thừa Sai Ba Lê, dưới triều Minh Mạng phải sống cơ cực vì trốn tránh, bị bệnh nặng. Bề Trên gọi ngài về Pháp để chữa trị, nhưng ngài đã trả lời: “Con quí chuộng những khổ cực ở đây hơn là được sức khỏe tại Pháp”. Ngài bị bắt, bị giải về Sơn Tây. Ba tháng sau, ngài bị xử lăng trì, đầu bị bêu cao ba ngày rồi ném xuống sông. Ngài cầu nguyện trước khi chết: “Xin Mẹ chứng giám cho việc sám hối của con”.
    Hai Thánh Jerônimô Hermosilla Liêm và Jacintô Castaneda Gia từ trại tù ra pháp trường cất cao tiếng hát kinh “Salve Regina” – Lạy Nữ Vương – “Lạy Mẹ nhân lành làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy... xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu, con lòng Mẹ...”.
    Ngày 7-1-1862 một nhóm Văn Thân đưa 306 người Công giáo gồm 200 đàn ông, 106 đàn bà và 50 trẻ em vào trong nhà thờ Bà Rịa rồi phóng lửa thiêu, trong khi tiếng lần hạt sang sảng, càng lâu càng lụi dần trong ánh lựa bập bùng với thân xác hiến dâng làm của lễ toàn thiêu.    Thánh Gioan Đoàn Trinh Hoan đeo ảnh Đức Mẹ. Lính buộc phải bỏ ảnh đeo. Ngài nói: “Không ai có quyền tháo ảnh nầy khỏi cổ tôi. Vì đó là ảnh của Mẹ Maria, Mẹ tôi”.
    “Dưới con mắt của các vị anh hùng tuẫn tiết, cuộc Tử  Đạo là một hiến tế dâng lên Thiên Chúa qua bàn tay Mẹ làm trung gian như Thánh Théophan Vénard Ven đã ghi trong thư gửi Đức Cha Theurel: “Lạy Mẹ Vô Nhiễm, khi đầu con rơi xuống dưới lưỡi gươm của lý hình, xin nhận lấy tôi tớ nhỏ bé nầy, như trái nho mọng chín được hái đi, như bông hồng nở rộ được ngắt về dâng lên bàn thờ Ave Maria” (Lm Hồng Phúc CSsR, Đức Mẹ La Vang và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ xuất bản, 1997, tr.22).
Các thánh tử đạo đã nhìn lên Mẹ, Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo, để vững tâm chiến đấu bảo vệ đức tin và dám chết làm chứng tình yêu của mình đối với Chúa và Đức Mẹ. Các ngài là gương anh dũng cho chúng. Các ngài cũng là người, cũng đau đớn, cũng sợ chết, nhưng tình yêu Chúa, lòng trung kiên với Chúa, lòng khiêm nhường kêu cầu Đức Mẹ, Mẹ đã giúp chiến thắng.

Đức Mẹ La Vang
    Đức Mẹ La Vang hiện ra trong bối cảnh lịch sử đất nước ta đang ở vào thời kỳ phân tranh giữa ba phe phái là Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn. Vua Quang Trung (Tây Sơn) sau khi đã chinh phục các tỉnh Trung Nam, đã kéo quân ra Bắc Hà, nhưng ông đoản mệnh mà mất năm 1792. Con Vua Quang Trung là Thái tử Nguyễn Quang Toản lên ngôi báu lúc 10 tuổi với danh hiệu là Vua Cảnh Thịnh. Nguyễn Ánh và Vua Cảnh Thịnh đang kình chống nhau kịch liệt. Sợ người Công giáo đứng về phía Nguyễn Ánh, một quan cận thần có ác cảm với đạo Công giáo tên là Lê Văn Lợi, đã rỉ tai vua, xin Hoàng đế diệt trừ người Công giáo.
Ngày 17 tháng 8 năm 1798, Vua Cảnh Thịnh từ Phú Xuân, ra sắc dụ cấm đạo. Nội dung sắc dụ như sau:
    “Nhân dân trong nước phải giữ đạo Tam Cang Ngũ Thường: quân thần, phụ tử, phu phụ, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
    “Đạo Da-Tô (Bồ Đào Nha) có nhiều tà thuyết phải được cấm triệt để. Do đó, muốn ích quốc lợi dân, Hoàng Đế truyền tiêu diệt Đạo ấy vì là đạo đáng ghét. Phải phá tất cả các nhà thờ, nhà xứ và bắt tất cả các thừa sai và các linh mục Việt Nam”. (Linh mục Hồng Phúc, Sđd, tr. 25).
    Lệnh vừa ban ra, quân lính đua nhau truy nã người Công giáo để bắt bớ, hành hạ và chém giết. Để tránh cơn bắt đạo ác liệt nầy, các giáo hữu thuộc tỉnh Quảng Trị tìm cách chạy trốn vào một nơi hẻo lánh, cách xa tỉnh chừng 6 cây số. Đây là rừng núi La Vang độc địa, hẻo lánh, nên giáo dân hy vọng quan quân không tìm đến. Dầu vậy đêm ngày họ vẫn hồi hộp lo sợ bị tầm nã bắt bớ, sợ thú dữ rừng hoang. Lại thêm lương thực không có, khí độc, nước độc, nên lâu ngày nhiều người lâm bệnh, tình cảnh thật trăm bề khổ cực.
    Trong con nguy khốn ấy, mọi người chỉ trông cậy vào Chúa và Đức Mẹ, đêm ngày hội họp nhau nơi đám cỏ, dưới gốc cây cổ thụ, đọc kinh lần hạt than khóc kêu xin Đức Mẹ cứu giúp  chở che.
    Thấy con cái giữ lòng trung nghĩa cùng Chúa, nhất là đang lâm cảnh hoạn nạn cơ cực ấy, Mẹ nhân lành động lòng thương xót, một hôm, trong lúc họ đọc kinh cầu nguyện, thì Đức Mẹ hiện ra rực rỡ tươi đẹp vô ngần. Người mặc áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng, có hai thiên thần hầu cận. Đức Mẹ xuống đứng trên đám cỏ gần gốc cây đa nơi giáo hữu đang cầu nguyện.
    Đức Mẹ tỏ vẻ nhân từ và âu yếm, an ủi các giáo hữu vui lòng chịu khó, dạy hái lá quanh đó nấu nước uống sẽ lành các chứng bệnh. Đức Mẹ còn phán hứa rằng: “Các con hãy tin tưởng, cam lòng chịu khổ, Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Mẹ ở chốn nầy, Mẹ sẽ nhậm lời ban ơn theo ý nguyện”.
    Đức Mẹ hiện ra nhiều lần như vậy. Đó là điều các tiền nhân loan truyền lại cho đến ngày ngay. Cũng từ ngày đó, người lương giáo cũng như người giáo tuôn về La Vang hành hương cầu nguyện, và Đức Mẹ giữ lời hứa, ban nhiều ơn phúc phần hồn, phần xác cho họ (Trích từ Tòa Tổng Giám Mục Huế, Thánh Địa Đức Mẹ La Vang,  1988, tr. 7-8).
    Sự tích Đức Mẹ hiện ra ở La Vang không có biên bản công nhận từ lúc đầu. Nhưng các việc thực hiện của giáo quyền và giáo dân trong giáo phận Huế cũng như khắp nước Việt Nam về sau đã nhìn nhận chính thức. Tòa Thánh cũng đã mặc nhiên nhìn nhận bằng nhiều lần nhiều cách: Trước hết là Tông Thư “Magno Nos” của Đức Thánh Cha Gioan XXIII nâng Đền Thánh Đức Mẹ La Vang lên bậc Tiểu Vương Cung Thánh Đường, ngày 22-8-1961.
Đức Thánh Cha viết trong Tông Thư như sau: “Lòng chúng tôi tràn đầy an ủi khi hồi tưởng đến vô vàn dấu tỏ lòng cung kính Đức Mẹ xuất hiện khắp nơi trên hoàn cầu, như muôn đóa hoa tuyệt đẹp trổ ra trong cánh đồng phì nhiêu Công giáo. Đất nước Việt Nam cũng trổ hoa mến yêu Đức Trinh Nữ và ở La Vang, một làng nằm trong lãnh thổ nước nầy, có đền thánh danh tiếng vì được dân chúng đến viếng đêm ngày đông đúc, và được coi như một Thiên đài toàn quốc... Phần chúng tôi, để ban thưởng Đức Tin bất khuất của giáo hữu Việt Nam một cách cân xứng, và để thúc đẩy lòng đạo đức thực hành... ban cho Đền Thánh Đức Mẹ La Vang ở Giáo Phận Huế, được tước hiệu và phẩm vị Tiểu Vương Cung Thánh Đường...”  (nt tr. 29-30).
    Đặc biệt ngày lễ Phong Thánh 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam, ngày 19-6-1988, trước khi đọc kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã có bài huấn dụ dài nhắc đến lịch sử Đức Mẹ La Vang, lịch sử  gắn liền với lịch sử các Thánh Tử Đạo năm 1798 thời Vua Cảnh Thịnh. Đức Thánh Cha nói thêm: “Khi hòa bình trở lại, thì vào thời gian rất sớm, người ta đã thấy mọc lên một Ngôi Thánh đường nhỏ bằng gỗ, và nơi đây đã trở nên một trung tâm hành hương. Nhưng những cuộc bách hại mới và dữ dội đã nhằm vào các tín hữu vào thế kỷ thứ 19. Lòng sùng kính Đức Mẹ là một trong những điểm quan trọng của Đức Tin nơi các vị tử đạo, khi những vị nầy bị điệu ra pháp trường thì người ta thường thấy các ngài mang tràng hạt ở cổ” (nt tr.32).
    Dưới thời các vua nhà Nguyễn Giáo Hội Việt Nam đã trải qua một giai đoạn đẫm máu ác liệt hơn bao giờ hết.
    Vua Gia Long (1802-1820) không ra chỉ dụ cấm đạo, nhưng không có thiện cảm với Công giáo, ông cấm xây dựng nhà thờ, không cho sửa chữa... coi đạo Công giáo là đạo ngoại lai và dị đoan.
    Vua Minh Mạng (1820-1840) ra dụ cấm đạo. Dưới thời ông có 50 vị tử đạo đã được tôn phong.
    Vua Thiệu Trị (1821-1874)  hơi hòa hoãn, nhưng khi hay tin thất trận ở Cửa Hàn, ông ra chỉ dụ bắt hết các giáo sĩ Tây phương ở trong nước, thưởng mỗi đầu chém được 30 đĩnh bạc.
    Vua Tự Đức (1847-1884) ra năm chỉ dụ cấm đạo: năm 1851, 1855, 1857, 1859, 1860. Chỉ dụ “phân sáp” năm 1860 là tàn bạo hơn cả, gồm những điều khoản chính sau đây:
1. Tất cả những người Công giáo đều phải tản mát sang các làng bên lương.
2. Tất cả các làng bên lương có trách nhiệm canh giữ người Công giáo. Cứ năm người lương giữ một người Công giáo.
3. Tất cả các làng Công giáo đều phải phá hủy, vườn tược và nhà cửa sẽ chia cho các làng lân cận.
4. Phải chia rẽ đàn ông Công giáo ra khỏi đàn bà Công giáo. Các đàn ông bị đưa đi một tỉnh, và các đàn bà trong một tỉnh khác để không thể sum họp, con cái sẽ giao cho các gia đình lương nuôi nấng.
5. Trước khi tản mát phải khắc hai chữ “Tả Đạo”vào má các đàn ông, các đàn bà, con trẻ Công giáo và cũng phải khắc tên tổng và huyện nơi đày tới, ngõ hầu không trốn tránh đi nơi khác được. (x Lm Hồng Phúc, sđd, tr. 42).
Hoàng đế Nêron có tiếng là độc ác, khi ông bắt đạo tại Rôma vào năm những năm 62-68. Ông bắt người Công giáo đưa vào hí trường Colossê tại Rôma rồi mỡ chuồng cho sư tử và cọp beo chạy vào để cắn xé ăn thịt, làm trò tiêu khiển cho ông và dân chúng thành Rôma. Nhưng có lẽ Vua chúa Việt Nam cũng không kém hơn.
Tertulliano nói: “Máu các thánh tử đạo là hạt giống trổ sinh người Công giáo”. Chúng ta cảm tạ các thánh tử đạo VN, tổ tiên của chúng ta. Chúng ta là kết quả của đức tin, của lòng mến và máu tử đạo của các ngài. Gia sản đó chúng có cố gắng bảo tồn hay không? Chúng ta có trung thành bảo vệ đức tin chúng ta chống lại những gì chia cách tình yêu của ta đối với Chúa và Phúc âm hay không?

Đức Mẹ Lộ Đức
    Trong khi con cái Việt Nam bị đầu rơi máu đổ linh láng dưới lưỡi gươm tàn bạo của Vua Tựï Đức, ông ra 5 chỉ dụ cấm đạo liên tiếp, năm 1851, 1855, 1857, 1859, 1860, thì năm 1858, bên  Châu, ở Lộ Đức hẻo lánh của miền Nam nước Pháp, Đức Mẹ hiện ra cho em bé Bernadette Sabirous. Chúng ta cần lưu ý mốc điểm thời gian: Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức năm 1858 trong khi bên kia bầu trời Viễn Đông, tại Việt Nam chúng ta, cơn bắt đạo lên đến tột điểm của sự độc ác với những chỉ dụ của những năm vừa kể. Một đàng một phần nhiệm thể của Giáo hội bị bách hại đau khổ được an ủi; một đàng tại Lộ Đức Đức Mẹ kêu gọi ăn năn thống hối tội lỗi. Biết bao nhiêu lần trong Cựu Ước, các tiên tri kêu gọi dân Chúa phải thống hối để khỏi cơn thịnh nộ Thiên Chúa sắp giáng phạt dân Người.
    Cha Morineau rất có lòng sùng kính Đức Mẹ và là người đã xây cất ngôi thánh đường La Vang, có nói: “Ở các nơi, Đức Mẹ tự hiện đến tìm người ta. Tại La Vang, bổn đạo kéo Đức Mẹ xuống với mình” (Lm Hồng Phúc, xđd tr. 34).
Ở Việt Nam, trước cảnh đầu rơi máu đổ, mẹï nào mà không đau đớn xót xa yêu thương con cái mình, mẹ nào mà không ra tay can thiệp, huống chi là Mẹ Maria. Mẹ đã hiện ra an ủi con cái Việt Nam bị bách hại.
    Ở Lộ Đức, Đức Mẹ kêu gọi thế giời phải cầu nguyện và ăn năn đền tội. Vì chính trong bối cảnh lịch sử từ năm1850 trở đi tại Âu Châu cũng như tại Mỹ Châu người ta đã phạm tội nhiều, xúc phạm đến Thiên Chúa, làm tổn thương nhiệm thể của Chúa Kitô. Lúc bấy giờ, bên Mỹ có nội chiến Nam Bắc, nạn buôn bán nô lệ, kỳ thị chủng tộc da màu.
Tại các nước Châu Mỹ La Tinh, dân địa phương dần dần bị diệt chủng và đây đó có những cuộc cách mạng nổi lên chống Giáo hội, đàn áp chống lại hàng giáo sĩ.
Ở Âu Châu, tại nước Ý tình hình chính trị xã hội và tôn giáo đang hồi xáo trộn và gây cấn, nhiều phong trào cách mạng cộng hòa nỗi dậy chống Giáo Hoàng. Đức Piô IX phải lánh khỏi Rôma năm 1848 đến Gaeta (Napoli) và Giuseppe Mazzini tuyên bố Rôma là nước cộng hòa.
Nước Đức đang thời kỳ Giáo hội bị tục hóa. Giáo hội giàu có, nhiều tài sản vật chất, một số trong hàng giáo sĩ sống theo nếp sống trần tục. Cách mạng viện lẽ rằng cần phải tước đoạt tài sản của Giáo hội, của giáo sĩ để họ phải sống đúng đời sống mục tử hơn. Họ cướp đoạt tài sản  Giáo hội, không những của Giáo hội mà thôi mà của dân chúng nữa. Với trào lưu tục hóa trong Giáo hội công giáo tại Đức, những người Tin Lành ở đây chiếm ưu thế trong cơ chế chính trị và người Công giáo trở thành thuộc hạ của Tin Lành (x. Ludwig Hertling, Storia della Chiesa, ed. Città nuova, trg. 530).
Tại Pháp, Napoleon III (1852-1870) đang cai trị, ông có thái độ khó hiểu: một đàng ra vẻ bảo vệ Giáo hoàng, nhưng đàng khác ông ủng hộ bằng mọi cách và mọi phương tiện để phong trào quốc gia Italia chống lại Giáo hoàng. Phong trào chống hàng giáo sĩ càng ngày càng mạnh (x. Sđd, trg. 543).
Trong bối cảnh lịch sử thế giới như thế, Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức kêu gọi cầu nguyện và ăn năn thống hối. Sự kiện nầy minh chứng tình Mẹ yêu thương con cái Việt Nam, Mẹ hiện ra can thiệp kêu gọi toàn Giáo Hội và thế giới cầu nguyện ăn năn đền tội. Sự kiện nầy cũng nói lên tính cách Giáo hội thông công và hiệp thông: một chi thể của nhiệm thể bị đau thì toàn nhiệm thể cũng phải chịu lây và phải góp phần xoa dịu, có những chi thể bệnh tật cần được mổ xẻ để chữa cho lành mạnh.
Ở Lộ Đức, mấy lần em Bernadette hỏi Đức Mẹ: “Tên Bà là gì?”. Đức Mẹ chỉ mỉm cười, sau cùng, ngày 25.3.1858, Đức Mẹ chấp hai tay trên ngực, ngước mắt lên trời rồi trả lời : ”Que soy era Immaculada Councepciou”, Đức Mẹ nói thổ ngữ ở vùng Lộ Đức bấy giờ, có nghĩa là: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Đức Mẹ mạc khải cho thế giới biết Mẹ là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội. Đức Mẹ chính thức đích thân xác nhận tín điều mà Đức Thánh Cha Piô IX đã tuyên bố trước đó bốn năm, ngày tức là ngày 8-12-1854.
Trong sứ điệp Ngày Thế Giới Bệnh Nhân năm nay 2008, cũng là ngày kỷ niệm 150 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI viết: “150 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức mời gọi chúng ta hướng nhìn về Đức Trinh Nữ Maria, mà Vô Nhiễm Nguyên Tội là hồng ân cao cả và nhưng không Thiên Chúa ban cho một người nữ, để Mẹ liên kết hoàn toàn vào chương trình của Thiên Chúa với đức tin vững chắc không lay chuyễn, dù cho bao thử thách và đau khổ Mẹ phải đương đầu. Vì thế Mẹ Maria là mẫu gương của việc tín thác hoàn toàn vào ý muốn của Thiên Chúa: Mẹ đã đón nhận trong lòng mình Ngôi Lời vĩnh cữu, tượng thai Ngôi Lời trong lòng đồng trinh; đã tín thác vào Chúa và, với tâm hồn đau đớn bị lưởi đòng đâm thâu (x Lc 2,35), đã không ngập ngừng chia sẻ cuộc khổ nạn của Con Mẹ, đã lập lại dưới chân thánh giá trên đồi Canvê tiếng “xin vâng” của ngày Truyền Tin. Vì vậy, suy niệm về Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội là để mình được thu hút bởi tiếng “xin vâng” đã kết hợp Mẹ một cách huyền nhiệm vào sứ mệnh cứu thế của Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại; là để cho Mẹ nắm tay và dẫn dắt, để mình cũng nói lên tiếng “xin vâng”theo ý muốn Thiên Chúa với tất cả sự hiện hữu của con người mình trong vui mừng và buồn sầu, hy vọng và thất vọng, trong ý thức rằng các thử thách và đau khổ làm cho phong phú cái ý nghĩa của cuộc hành trình trần gian của chúng ta” (Bênêdictô XVI, Sứ điệp Ngày Thế Giới cho Bệnh Nhân 11-2-2008).
Đức Thánh Cha viết tiếp: “Sự kiện nhiều bệnh nhân hành hương và những người tình nguyện đi theo giúp đỡ họ, giúp chúng ta suy nghĩ về sự quan tâm lo lắng mẫu tử và dịu hiền mà Đức Trinh Nữ tỏ ra đối với sự đau đớn (thể xác) và đau khổ (tinh thần) của con người. Kết hợp vào Hy lễ của Đứ Kitô, Mẹ Maria, Mẹ Sầu Bi, dưới chân thánh giá đã đau đớn với Con Thiên Chúa của mình, được cảm thấy đặc biệt gần gũi bởi cộng đồng Giáo hội vây quanh bên các phần tử đang đau khổ, những người mang trên mình vết tích cuộc khổ nạn của Đức Kitô. Mẹ Maria đau khổ với những người chịu thử thách, nâng đỡ, ủi an họ với tình mẫu tử. Phải chăng kinh nghiệm thiêng liêng của các bệnh nhân đã giúp họ hiểu hơn rằng “Chúa Cứu Thế muốn thâm nhập vào tâm hồn mỗi người đau khổ qua con tim của Mẹ chí thánh mình, hoa trái đầu mùa và cao trổi trên tất cả các người được cứu rỗi”  (Bênêđictô XVI, nt).

Đức Mẹ Fatima
Ở Fatima năm 1917 Đức Mẹ hiện ra cho ba trẻ và cho các em thấy hỏa ngục, trong đó ma quỉ và các linh hồn bị lửa thiêu đốt khủng khiếp giữõa những tiếng kêu la thảm thiết tuyệt vọng.
Em Lucia thuật: “Sau đó chúng tôi nhìn lên Đức Mẹ và Đức Mẹ nói với chúng tôi một cách thật hiền lành nhưng mà buồn rầu như sau: “Chúng con thấy hỏa ngục nơi linh hồn những người tội lỗi rơi vào. Để cứu họ, Chúa muốn thiết lập trên thế giới lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Của Mẹ. Nếu làm như lời Mẹ dạy, nhiều linh hồn sẽ được cứu thoát và sẽ có hòa bình. Chiến tranh sắp chấm dứt (thế chiến I, 1914-1918); nhưng nếu người ta tiếp tục xúc phạm đến Chúa, trong triều đại Đức Thánh Cha Piô XI sẽ bắt đầu một cuộc chiến khủng khiếp hơn (thế chiến II, 1939-1945). Khi chúng con thấy một đêm sáng bởi một ánh sáng kỳ lạ thì chúng con biết rằng đó là dấu chỉ Thiên Chúa sắp phạt thế gian vì những tội ác của họ, bằng chiến tranh, đói khát, bắt bớ Giáo hội và Đức Thánh Cha. Để chận đứng những sự dữ đó, Mẹ đến yêu cầu dâng nước Nga cho Trái Tim Vẹn Sạch Của Mẹ và Rước lễ Đền Tạ các Thứ Bảy Đầu Tháng. Nếu người ta làm theo lời Mẹ yêu cầu, nước Nga sẽ trở lại và sẽ có hòa bình; nếu không thì nó sẽ gieo rắc các sai lầm trên thế giới, gây ra chiến tranh và bách hại Giáo hội. Những người lành sẽ bị tử đạo, Đức Thánh Cha sẽ bị đau khổ nhiều, nhiều nước sẽ bị tiêu diệt. Sau cùng Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Sẽ Thắng. Đức Thánh Cha sẽ dâng nước Nga cho Mẹ, nước Nga sẽ trở lại và thế giới được ban cho một thời gian hòa bình” (Tarcisio Bertone, L’Ultima Veggente di Fatima, ed. Rai Eri Rizzoli 2007, tr. 149).
Nhìn lại lịch sử thế giới, thì những điều Đức Mẹ nói với ba trẻ Bồ Đào Nha Lucia, Francesco và Giacinta, 12, 9 và 7 tuổi đã thực sự xảy ra. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nghe lời Đức Mẹ dạy, đã dâng thế giới và nước Nga cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ và vào tháng 11 năm 1989 bức tường Bá Linh bị sập đổ, Cộng sản Nga tan rã và nước Nga đã trở lại.
Cũng nhìn lại lịch sử, nếu thế giới và Đức Thánh Cha bấy giờ đã sớm thi hành những điều Đức Mẹ dạy, thì có thể đã không có thế chiến II, các nước Đông Âu đã không rơi vào chế độ cộng sản và quê hương Việt Nam chúng ta cũng đã không sống dưới chế độ cộng sản hiện nay.
Đức Mẹ luôn thương con cái là chúng ta, quan tâm đến chúng ta, nhưng những điều Đức Mẹ dạy, chúng ta có ngoan ngoãn thi hành hay không?

Khác biệt giữa Đức Mẹ La Vang, Đức Mẹ Lộ Đức và Đức Mẹ Fatima
 Đức Ông Trần Văn Hoài khi viết Lời Giới Thiệu cho cuốn sách: Đức Mẹ La Vang và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam” của Lm Hồng Phúc, đã có những nhận xét sau đây:
a) Khác với ở Lộ Đức và Fatima, ở La Vang, Đức Mẹ không mời gọi con cái phải làm một điều gì. Trái lại, khi hiện ra Ngài nói với đoàn con đau khổ: “Mẹ đã nhậm lời chúng con...”. Phải chăng muôn vàn đau khổ con cái Việt Nam gánh chịu, đã là bảo chứng, là điều kiện để được Đức Mẹ ban ơn?
b) Ở Lộ Đức, ở Fatima, chính Đức Mẹ đích thân đến tìm con cái để mang sứ điệp tới cho toàn thể Giáo Hội, cho cả thế giới. Còn ở La Vang, chính con cái Mẹ, trong lúc đau khổ chạy đến tìm tình thương âu yếm của Mẹ (con khóc gọi Mẹ đến).
c) Trong lúc sứ điệp Lộ Đức và sứ điệp Fatima gởi toàn thế giới và Giáo Hội, thì tại La Vang Đức Mẹ đến nhắn nhủ riêng với con cái Việt Nam. Chính vì lý do nầy mà chúng ta có thể xác quyết: Mẹ La Vang là Mẹ riêng của Giáo Hội và dân tộc Việt Nam. Và sứ điệp là sứ điệp tình mẫu tử dành riêng cho đứa con đau khổ.
Tình mẫu tử nầy suốt 210 năm qua, dưới nhiều hình thức ơn lành Mẹ ban cho con cái Việt Nam chúng ta, không phân biệt tôn giáo, từ ơn được chết tử đạo của tổ tiên chúng ta đến các ơn phần hồn phần xác cho đủ mọi hạng người, mọi gia đình” (Lm Hồng Phúc, sđd, tr. 2). (Chúng ta sẽ trở lại để nói thêm về Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang, ở phần hai).



mailto:info@danchua.de - Copyright © 2007 Dân Chúa Âu Châu - All rights reserved.