|
 |
/ Trang Nhà/ DHCGVN32/ Bài thuyết trình (Phần II)
PHẦN II- SỨ ĐIỆP CỦA MẸ MARIA, NỮ VƯƠNG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO.
1. Sứ điệp “Xin vâng”. Mẹ Maria đã hoàn toàn vâng theo ý muốn của Thiên Chúa qua lời đáp trả: “Nầy tôi là nữ tỳ Chúa, xin vâng lời Thiên Sứ ”. Đức Mẹ xưng mình là “nữ tỳ” là “đầy tớ” là “người nô lệ” của Chúa. Nữ tỳ, đầy tớ, nô lệ hoàn toàn thuộc về người chủ, ý muốn của chủ là ý muốn của mình, sống hoàn toàn cho người chủ. Mẹ Maria sống hoàn toàn cho Thiên Chúa để Người thực hiện chương trình cứu rỗi nhân loại của mình. Mẹ đã không giữ lại gì cho mình. Có đứa con duy nhất, Mẹ đã dâng hiến trên bàn thờ thập giá và Mẹ đứng bên cạnh để nâng đỡ khuyến khích tinh thần để Con can đảm chịu đựng dâng hy tế toàn thân và ý chí cho đến giọt máu cuối cùng. Mẹ Maria là người tín hữu tuyệt hảo. Mẹ đã làm hoàn toàn theo thánh ý Thiên Chúa trong chương trình của Người cho thế giới và cho nhân loại. Chúa Giêsu sống hoàn toàn vâng theo thánh ý Chúa Cha. “Này con đến để làm trọn thánh ý Cha”. Nhiều lần Chúa Giêsu lập đi lập lại: “Ta đến không phải để làm theo ý của Ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai Ta”. Khi khác Chúa nói: “Của ăn của Ta là làm theo thánh ý Cha Ta”. Và Người đã vâng lời Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá. Trên thập giá Người thốt lên lời cuối cùng: “Mọi sự đã tất”, rồi tắt thở. Sứ mệnh Chúa Cha sai đến thế gian Người đã hoàn tất. Dù trước đó trong vườn cây dầu Người đã rùng mình khiếp sợ đến nỗi phải đổ mồ hôi máu kêu cầu Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cất con khỏi chén đắng nầy, nhưng xin đừng theo ý con, nhưng theo ý Cha mà thôi”. Tổ phụ Abraham vâng lời Chúa không chút do dự đã rời quê hương mà không biết mình đi đâu, tương lai sẽ như thế nào, hướng về vùng đất Thiên Chúa hứa cho ông. Đã 100 tuổi ngài vẫn tin chắc Thiên Chúa sẽ ban cho mình một người con. Rồi khi có một đứa con duy nhất là Isaac, Chúa dạy phải hiến tế cho Thiên Chúa, ngài đã vâng lời không chút do dự càu nhàu, vì “nghĩ rằng Thiên Chúa cũng có thể cho người chết sống lại...” (cf He 11,9-19). Thiên Chúa đã thử ông, đã thấy lòng ông, nên chính vì thế Thiên Chúa đã nhậm của lễ mà không cho sát tế con, và Thiên Chúa đã cho Abraham thành cha của đông đảo dân chúng như sao trên trời và như cát dọc theo bờ biển. “Dựa vào một mình Chúa, chọn lựa Thiên Chúa: đó chính là kinh nghiệm lớn lao của các Tổ phụ, các Ngôn sứ, các tín hữu tiên khởi, được gợi lại trong chương 11 của Thư gửi Tín hữu Do Thái trong đó có 18 lần dùng thành ngữ “nhờ đức tin” (per fede) và một lần nhờ thành ngữ “với đức tin” (con fede) (DHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Chứng nhân hy vọng, tr.65). Chúng ta hãy nghe một đoạn chứng từ của ĐHY Phaxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trong cuốn sách “Chứng nhân hy vọng: Những bài giảng Tĩnh Tâm cho Đức Thánh Cha và Giáo triều Rôma”. Ngài viết: “Trong 9 năm biệt gian cơ cực, có lúc tôi bị giam trong một xà lim không có cửa sổ. Có khi đèn điện bật sáng từ ngày nầy qua ngày nọ. Có lúc lại ở trong bóng tối từ tuần nầy qua tuần khác. Tôi cảm thấy bị ngộp vì nóng bức và hơi ẩm. Tôi sắp bị điên lên. Lúc bấy giờ tôi là một Giám mục trẻ, với 8 năm kinh nghiệm mục vụ. Tôi không thể ngủ nổi. Tôi bị dằn vạt bởi ý nghĩ phải bỏ giáo phận, phải bỏ những công việc của Chúa. Tôi cảm thấy một sự phẫn uất nổi lên trong tôi. Một đêm kia, từ thâm tâm có một tiếng nói với tôi: “Tại sao con day dứt như thế? Con phải phân biệt giữa Thiên Chúa và các công việc của Chúa. Tất cả những gì ngươi đã làm và muốn tiếp tục làm, như các cuộc viếng thăm mục vụ, đào tạo chủng sinh, tu sĩ nam nữ, giáo dân, giới trẻ, xây dựng trường học, các cư xá sinh viên, cứ điểm truyền giáo... đều là việc rất tốt và đúng là công việc của Chúa nhưng không phải là chính Thiên Chúa! Nếu Chúa muôn con rời bỏ tất cả những việc đó. Hãy bỏ nghe, và hãy tín thác nơi Ngài! Thiên Chúa sẽ giao việc của con cho người khác có khả năng hơn con. Con phải chọn Chúa chứ không phải những công việc của Chúa!”. ĐHY Thuận thuật tiếp: Ánh sáng ấy đã mang lại cho tôi một niềm an bình mới mẻ làm thay đổi toàn diện cách suy tư của tôi và đã giúp cho tôi vượt thắng những khoảnh khắc hầu như không thể chịu nổi về phương diện thể lý. Từ đó một sự an lành tràn ngập tâm hồn tôi và lưu lại trong tôi suốt 13 năm tù đày. Tôi cảm thấy sự yếu đuối của con người mình, nhưng tôi luôn nhắc lại điều đã quyết định khi phải đối diện với nghịch cảnh. Nhờ thế tôi không bao giờ mất sự bình an.” ĐHY Thuận kết luận cho chúng ta như sau: “Chọn Chúa chứ không phải chọn những công việc của Chúa. Đó chính là nền tảng đời sống Kitô trong mọi thời đại. Và đồng thời đó là câu trả lời đích thực nhất cho thế giới ngày nay. Đó cũng là để thực hiện những dự định của Chúa Cha đối với chúng ta, đối với Giáo hội và nhân loại ngày nay” (sđd trg 65-66).
2. Sứ điệp Thánh giá. Chúa Giêsu chỉ phục sinh sau tuần thương khó thập giá và tử nạn. “Ai muốn theo Ta hãy bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Vác thánh giá hằng ngày là gì, nếu không phải là chấp nhận những bệnh tật đau khổ, trong cuộc đời mà Chúa để cho xảy ra cho mỗi người, để thánh hóa mình, để biến nó làm phương thế cứu rỗi cho mình? Mẹ Maria đã chấp nhận tuân theo luật lệ hiện hành bấy giờ đi về Gêrusalem làm sổ kiểm dân trong lúc mang thai, đã chấp nhận sinh con trong hoàn cảnh thiếu thốn khó khăn, đã chấp nhận dâng con theo luật Mosê trong đền thánh, đã vâng lời vội vã trốn lánh mang con tị nạn bên nước Ai cập. Mẹ Maria đã chứng kiến cuộc khổ nạn của Con một mình bị đánh đòn, bị lên án, vác thập giá và chết nhục nhã trên thập giá. Đó là thánh giá của cuộc đời của Đức Mẹ, và chúng ta, mỗi người đều có những thánh giá riêng, nhiều, ít, lớn, nhỏ trong cuộc đời của mình. Thánh giá hằng ngày là gì nếu không phải là những khó khăn cá nhân, gia đình, vợ chồng con cái, công ăn việc làm, trong sự học hành của con em? Thánh giá hằng ngày là gì nếu không phải là những sự rạn nứt trong gia đình, ngoài xã hội, trong mối tương giao cộng tác nghề nghiệp, nhiều lúc ngay cả trong những người làm công tác tông đồ mở mang nước Chúa? “Ai yêu mến mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạn sống mình ở đời nầy thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12, 25). Những người làm việc tông đồ mà tìm lợi danh cho mình hay cho nhóm phe của mình, thì chắc chắn sẽ mất sự tín nhiệm của của giáo dân, của hàng giáo phẩm và nhất là không được lợi ích gì cho sự sống đời đời. Kính thưa ông bà cô bác anh chị em, cuộc đời của mỗi người chúng ta đều có bị thử thách, đau khổ, vì bệnh tật, vì tình cảnh gia đình, có vì khi thất nghiệp, hoạn nạn, có khi thiếu bình an trong gia đình giữa vợ chồng, cha mẹ, con cái. Đời chúng ta sẽ an bình hạnh phúc, và phần rỗi chúng ta sẽ được Chúa ban, vì “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người” (Rm 8,28). Nếu chúng ta biết chấp nhận trong tình yêu Chúa và kết hợp với thánh giá và cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, thì nó sẽ là nguồn ơn cứu rỗi đời đời cho chúng ta. “Nếu hạt giống rơi vào lòng đất không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. (Ga 12, 24). Nếu chúng ta không chết đi cho tính ích kỷ, cho sự tìm danh vọng cá nhân, cho sự tìm tiếng khen ca tụng của quần chúng thì cuộc đấu tranh cho công bằng cho nhân quyền, cho tự do, cho bác ái, các hoạt động bác ái xã hội, công việc tông đồ của chúng ta chỉ là những sự tìm danh vọng cá nhân chứ không tìm vinh quang cho Chúa. Cần phải sống với với cái lý tưởng của thánh Gioan Tẩy giả, thì đời ta mới thật sự có ý nghĩa và có giá trị thật trước mặt Chúa: “Người phải lớn lên, còn tôi thì phải nhỏ lại”. Ngày 11/2/2008 vừa qua, kỷ niệm 150 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, Giáo hội cử hành ngày Thế Giới cho Bệnh Nhân, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã gửi sứ điệp nhắc nhớ “ý nghĩa của đau khổ và bổn phận của người tín hữu phải mang đau khổ trong bất cứ hoàn cảnh nào”.
Sứ điệp của Đức Mẹ ở La Vang: “Các con hãy tin tưởng, cam lòng chịu khổ, Mẹ đã nhận lời các con kêu xin. Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Mẹ ở chốn nầy, Mẹ sẽ nhậm lời ban ơn theo ý nguyện”. - “Hãy tin tưởng”: Hãy tin vào tình yêu bao la của Mẹ, của Chúa. Chúa trao cho Đức Mẹ sứ mệnh làm trung gian can thiệp giữa loài người và Con Một Thiên Chúa. Tại tiệc cưới Cana Đức Mẹ đã can thiệp và đã có hiệu quả thế nào, thì chúng ta phải tin tưởng nhờ Mẹ Maria để can thiệp cho ta, cho Giáo hội, cho thế giới. Chúa Giêsu mạc khải cho thánh nữ Faustina biết rằng Người rất đau buồn vì con cái loài người không “tín thác vào lòng thương xót của Người”. - “Hãy cam lòng chịu khổ”: Đó là mầu nhiện thánh giá, mầu nhiệm đau khổ, mầu nhiệm tử nạn, để được phục sinh với Chúa Giêsu. Từ khi nguyên tổ loài người phạm tội, đau khổ bệnh tật đã tràn lan vào thế gian. Chúa Cha đã không cất cho thế gian khỏi đau khổ và chết chóc, “nếu đẹp lòng Cha, xin Cha cất con khỏi chén đắng nầy, nhưng không dám theo ý riêng con, nhưng theo ý Cha”. Chúa Cha đã để cho Chúa Con uống cạn chén đắng. Như vậy, đau khổ vẫn còn trên thế gian, nhưng được Chúa dùng để biến nó thành vinh quang phục sinh. Đó là bí quyết, là tình thương Chúa dành cho ta. Không có con đường nào khác: “Ai muốn theo Ta hãy vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta”. - “Mẹ đã nhậm lời các con cầu xin”: Chúa đã nói rồi, đã hứa rồi, “xin thì sẽ được, tìm thì sẽ gặp, gõ thì sẽ mở cho”. Mẹ Maria khuyến khích ta cầu xin. - “Từ nay về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Mẹ ở chốn nầy” là Đức Mẹ muốn cho con cái VN chạy đến La Vang, là nơi để Mẹ ban ơn. Cũng như ở Lộ Đức, Đức Mẹ ban ơn lành phần hồn phần xác cho những ai đến cầu nguyện, thì ở La Vang, Đức Mẹ cũng đã hứa ban ơn theo ý nguyện. Hội Đồng Giám Mục VN đã nâng La Vang thành Trung Tâm Thánh Mẫu và Hành Hương Quốc Gia. Hằng năm ngày 15/8 có đại hội La Vang toàn quốc. Người Công Giáo VN ở hải ngoại vì không trực tiếp hành hương kính viếng Mẹ, thì hiệp lòng hiệp thông với Giáo hội bên quê nhà để cầu nguyện cho Giáo hội, cho quê hương, đất nước và dân tộc thân yêu chúng ta.
3. Sứ điệp Sống Lời Chúa. Khi Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời rao giảng nước trời, Người tự nguyện đến để cho ông Gioan làm phép rửa thống hối mặc dù Người không có tội gì, sau khi bước ra khỏi nước, có tiếng của Chúa Cha phán từ trời: “Này là Con yêu dấu Ta và đẹp lòng Ta mọi đàng, hãy nghe lời Người”. “Hãy nghe lời Người”. Lời nầy của Chúa Cha không phải để khen tặng suông Ngôi Hai Thiên Chúa, nhưng là bí quyết là con đường, là đạo lý để được sống đời đời. Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh, đặc biệt trong bốn Phúc âm. Cần tập thói quen đọc Phúc âm hằng ngày để cầu nguyện và sống theo Lời Chúa. Trong Hiến Chế “Thiên Chúa Mạc Khải” (Dei Verbum), Công đồng Vatican II “nhiệt liệt cổ võ mọi tín hữu... hãy chuyên cần đọc Kinh Thánh là “khoa học cao siêu về Chúa Kitô” (Phil 3,8). Vậy họ hãy siêng đọc nguyên bản Thánh Kinh, hoặc trong Phụng vụ có chứa chất đầy lời Chúa, hoặc đọc sách thiêng đạo đức, dự những buổi học hỏi về Kinh Thánh, hay phương pháp nào thích hợp, do giáo quyền chuẩn nhận hay tổ chức... Hãy nhớ: cầu nguyện đi đôi với việc đọc Kinh Thánh, để nó trở thành cuộc gặp gỡ giữa Chúa và loài người, vì khi cầu nguyện là ta nói, Chúa nghe; khi ta đọc lời Chúa, là ta nghe Chúa nói” (Dei Verbum 25). Đức Mẹ hằng ghi nhớ mọi Lời Chúa và chiêm ngắm trong lòng đã tin Lời Chúa, đã sống Lời Chúa. Trong hoang địa sau khi ăn chay bốn mươi đêm ngày Chúa Giêsu cảm thấy đói và ma quỉ đã hiện ra cám dỗ người hãy làm phép lạ biến đá trở thành bánh mà ăn. Chúa Giêsu đã trả lời cho quỉ cám dỗ Người: “Người ta sống không chỉ bằng cơm bánh, nhưng còn Lời từ miệng Chúa phát ra nữa”. Lời Chúa là đèn soi cho bước đi cùa chúng ta, là lẽ sống cho cuộc đời tín hữu. ĐHY Nguyễn Văn Thuận thuất lại sự khao khát Lời Chúa của ngài khi ở trong tù như sau: “Khi ở trong tù, tôi không được mang theo sách Kinh Thánh; vì vậy tôi đã lượm các mảnh giấy vụn mà tôi gặp rồi đóng nó lại thành một cuốn sổ nhỏ, trong đó tôi ghi lại hơn 300 câu Phúc âm; cuốn Phúc âm kết nhặt nầy đã là sổ tóm tắt (vademecum) hằng ngày của tôi, sách gối đầu giường quí giá từ đó tôi múc lấy sinh lực và của ăn thiêng qua việc đọc Lời Chúa”. Mỗi gia đình, mỗi cá nhân phải có cuốn Kinh Thánh để mỗi ngày một chút để sống Lời Chúa.
4. Sứ điệp Sống thánh giữa đời. Sách Công Vụ Tông Đồ (CV 9,13) và thánh Phaolô trong các thư của ngài đều gọi các tín hữu đầu tiên là “các thánh” vì họ sống thánh hiến mình cho Thiên Chúa, loại trừ mọi tội lỗi và do đó sống cuộc đời tinh tuyền tốt đẹp. Và tại Antiokia lần đầu tiên các môn đệ được gọi là “Kitô hữu”. Danh hiệu mới nầy phân biệt tín hữu Kitô với tín đồ Do Thái. Chúng ta là “Kitô hữu” là người mang trong mình Chúa Kitô Đấng Cứu Thế. Đấng Kitô là Thiên Chúa là Đấng Thánh được Chúa Cha xức dầu tấn phong. Người tín hữu chúng ta ngày chịu phép Rửa tội, Giáo hội cũng xức dầu tấn phong làm con Chúa, được trao trượng trưng một chiếc áo trắng và dạy phải giữ cho nó tinh tuyền cho đến khi ra trước tòa Chúa, tức là Giáo hội dạy chúng ta phải bảo vệ giữ gìn linh hồn tinh trắng được thanh tẩy qua nước Bí tích Rửa tội cho đến ra trình diện mặt giáp mặt với Chúa Kitô. Địa vị làm con Chúa đòi hỏi người tín hữu chúng ta phải có nếp sống và cách hành xử xứng đáng với địa vị con Chúa của mình. “Con vua thì được làm vua, thì được làm vua. Con nhà kẻ khó bắt cua tối ngày”. Thánh Phaolô viết trong thư gửi tín hữu Rôma: “Thần khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên “Aùp-ba! Cha ơi!” Chính thần khí chứng thực cho chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với Người, chúng ta sẽ cùng được hưởng vinh quang với người” (Rm 8,14-17). Công đồng Vatican II kêu gọi mọi người tín hữu phải nên thánh (LG 32). “Tất cả mọi người giáo dân, bất cứ là ai, đều được mời gọi với tư cách là những chi thể sống động, đem hết mọi sức lực mình đã lãnh nhận bởi ơn lành của Đấng tạo thành và ân sủng của Đấng cứu chuộc để làm cho Hội thánh được lớn mạnh và được thánh hóa không ngừng” (LG 33). Mỗi người có bổn phận làm cho mình là chi thể của nhiệm thể Giáo hội được tốt hơn được thánh hơn mỗi ngày để Giáo hội được tốt hơn và như vậy góp phần vào công cuộc thánh hóa Giáo hội và xã hội. Làm sao để nên thánh? ĐHY Nguyễn Văn Thuận chỉ cho chúng ta một con đường nên thánh mà ngài đã sống Ngài viết như sau: “Sau khi bị bắt hồi tháng 8 năm 1975, tôi bị đưa từ Sàigòn tới Nha Trang, trong một cuộc hành trình dài 450 cây số trong đêm khuya giữa hai người công an. Kinh nghiệm sống tù ngục bắt đầu: tôi không còn có giờ giấc nữa. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”: một ngày trong tù dài bằng ngàn năm sống tự do bên ngoài. Tôi đã sống kinh nghiệm đó: Trong tù mọi người đều chờ đợi được trả tự do, từng ngày từng phút. “Trong những ngày tháng đó biết bao nhiêu tâm tình hỗn độn quay cuồng trong đầu óc tôi: buồn sầâu, sợ hãi, căng thẳng. Tim tôi bị xé nát vì phải xa giáo dân. Trong đêm tối dày đặc giữa đại dương lo âu, dần dần tôi tỉnh thức: “Tôi phải đương đầu với thực tại. Tôi đang bị tù. Nếu tôi chờ đợi lúc thuận tiện để làm một cái gì đó thật vĩ đại, thì sẽ có được mấy dịp như thế? Chỉ có một điều chắc chắn sẽ xảy đến: đó là cái chết. Cần phải nắm lấy cơ hội xảy ra mỗi ngày để chu toàn những công việc tầm thường nhưng một cách phi thường” (ĐHY số 818). “Trong những đêm dài trong tù ngục tôi ý thức được rằng sống giây phút hiện tại là con đường đơn sơ và chắc chắn nhất dẫn tôi tới sự thánh thiện. Niềm xác tín đó gây cảm hứng cho lời cầu nguyện sâu đây: “Lạy Chúa Giêsu, con sẽ không chờ đợi nữa. Con sống giây phút hiện tại cho tràn đầy tình yêu. “Chấm nầy nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. “Phút nầy nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. “Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh. “Đường Hy vọng, do mỗi chấm hy vọng. Đời Hy vọng do mỗi phút Hy vọng (ĐHV số 977). “Như Chúa, lạy Chúa Giêsu, Đấng đã luôn làm những gì đẹp lòng Thiên Chúa Cha. “Mỗi phút con muốn thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa Giêsu, con yêu mến Chúa, cuộc sống của con sẽ luôn là “một giao ước mới và giao ước vĩnh cửu” với Chúa. “Mỗi giây phút con muốn hát lên cùng với toàn thể Hội Thánh: “Vinh danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần...”(ĐHY Nguyễn Văn Thuận, sđd 73). Sống giây phút hiện tại, phó thác tất cả cho Chúa, để mình lệ thuộc hoàn toàn vào Chúa, là con đường thơ ấu mà Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã áp dụng Lời Chúa Gêsu: “Nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ em, thì sẽ chẳng được vào nước trời” (Mt 8,2). Thánh nữ Faustina, vị tông đồ được Chúa Giêsu trao cho sứ mệnh truyền bá Lòng Thương Xót Chúa nói: “Tình yêu lớn thì biến đổi những việc nhỏ thành những việc lớn và chỉ có tình yêu mới làm cho các việc làm của chúng ta có giá trị”. “Người giáo dân có sứ mạng đặc biệt là làm cho Hội Thánh hiện diện và hành động trong những nơi và những hoàn cảnh mà nếu không có họ thì Hội thánh không thể là muối của trần gian” (LG 33). Đem chân lý Phúc âm vào môi trường sống của mình. Đem công bình bác ái, công lý và tình liên đới đến với mọi người, nhất là những người bé nhỏ bị bỏ rơi, những người bị áp bức hà hiếp, cần sự giúp đỡ và tình thương của chúng ta. Chớ gì kinh Hòa bình lời của Thánh Phanxicô và nhạc của Kim Long mà chúng ta vẫn hát sốt sắng được thực hiện nơi chúng ta: “Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để đem yêu thương vào nơi hoán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an bình vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm. Để con đem tin kính vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng. Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tâm, đem niềm vui đến chốn u sầu”. Nước Đức nầy, Giáo hội Đức nầy đã quảng đại tiếp rước đồng bạo Việt Nam tị nạn chúng ta cũng như những sắc dân tị nạn khác. Sự kiện nầy mời gọi chúng ta tỏ ra lòng biết ơn đối với Giáo hôi và đất nước nầy, đồng thời thúc đẩy chúng ta xây dựng xã hội và Giáo hội nơi chúng ta sống, nơi bảo đảm chúng ta một đời sống tự do, xứng nhân phẩm con người, nơi chúng ta được tự do tôn giáo, tổ chức lễ hội gây tình đoàn kết hiệp nhất để sống đức tin. Sống giữa xã hội Đức và trong Giáo hội Đức, chắc chắn chúng ta đã học được bài học bác ái, quảng đại, kỷ luật. Giáo hội Đức có nhiều tổ chức từ thiện bác ái và truyền giáo, là gương cho Công giáo Việt Nam tại Đức biết mở rộng tâm hồn lòng bác ái quảng đại đối với nhu cầu vật chất, tinh thần và truyền giáo của những Giáo hội đang đau khổ đang gặp khó khăn và những dân tộc thuộc các nước đang đương đầu với nạn nghèo đói, bệnh tật. Một hy sinh vật chất nhỏ của chúng ta có thể góp phần không ít đem lại lương thực nuôi sống nhiều người, đem hạnh phúc cho trẻ em, cho chúng cơ may học hành, được giáo dục, cho chúng niềm hy vọng mới cho tương lai. Đói. Mỗi năm trên thế giới có từ 5 đến 20 triệu người chết đói vì thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng, trong khi thế ở các nước Aâu Châu, Mỹ Châu có nạn bị mập phì vì quá ăn. Riêng tại Aâu châu có từ 25% đến 75% người trưởng thành mập quá ký. Riêng tại Italia có 39,9% người mập quá ký và dân chúng mập phì hằng năm phải tốn tiền thuốc và bác sĩ để làm cho hết mập. Mới đây Tổ Chức Thực Phẫm Quốc Tế Liên Hiệp Quốc báo động nạn tăng giá thực phẫm như nạn “sống thần tsunami âm thầm”, nếu không có biện pháp thích ứng thì hàng trăm triệu người, nhất là thuộc các nước nghèo. Bà Josette Sheeran Giám đốc điều hành Tổ chức đã nói trong một cuộc họp thượng đỉnh tại Luân đôn: “Trong ba năm qua, thế giới đã tiêu thụ hơn số lượng sản xuất... Cần thiết khẩn cấp phải có những biện pháp gia tăng thực phẫm”. Giá gạo, giá ngũ cốc gia tăng gắp đôi, hàng triệu người chết đói. Giữa một xã hội tiêu thụ tranh đua vật chất đồ dùng, xe cộ, máy móc..., người tín hữu cần sống tinh thần nghèo khó biết nghĩ đến người khác, hy sinh cho người kém cơ may, như Đức Kitô từ địa vị cao sang đã tự nguyện chấp nhận nếp sống nghèo để chia sẻ với những người nghèo khó nhỏ bé kém địa vị, để nâng họ lên làm con Thiên Chúa. Ngày tận thế Chúa sẽ phán xét chúng ta về đức bác ái: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ các ngươi đã tiếp rước... Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”. Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người bên trái rằng: “Xưa Ta đói các ngươi đã không cho ăn... Họ thưa: “Lạy Chúa có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà không cho ăn đâu? Chúa trà lời: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính ta vậy” (Mt 25,31-46). 
Gia đình. Sống giữa một xã hội vật chất tực hóa, giá trị luân lý nền tảng gia đình bị lung lay sụp đổ, người Công giáo chúng ta có bổn phận phải bảo tồn và phát huy giá trị luân lý của gia đình và xã hội; bảo vệ sự sống. Người ta tính ước lượng cứ mỗi 25 giây thì ở Âu châu có một cuộc phá thai giết người, nhiều hơn các bệnh tật khác. Ở Âu châu, số ly dị trong 15 năm cuối đây gia tăng 50% liên lụy đến 21 triệu trẻ con có cha mẹ li dị. Ở Âu châu, số lương sinh sản là 1,1%. Phá thai và li dị được kể là hiện tượng xã hội được luật pháp ghi nhậân, kết quả là phá hoại gia đình, sự sống và giá trị nhân bản. Ở Âu châu người ta nhận thấy có khuynh hướng chối bỏ nguồn gốc kitô giáo của Âu châu, dường như người ta sợ xưng mình là Kitô hữu. Một dân tộc mà sợ và làm cho mất căn tính của mình thì dân tộc đó sớm muộn gì cũng tự diệt, bị biến mất với thời gian. Người tín hữu Công giáo phải làm chứng cho Chúa Kitô và Phúc âm của Người giữa một xã hội dần dần bị tục hóa đánh mất căn tính Kitô giáo của mình. Phải dám đi ngược dòng nước, hiên ngang sống đạo. Các thánh tử đạo đã can đảm làm chứng đức tin của mình trước sự bắt bớ hành hạ, giết chốc. Người tín hữu cần sống đức tin giữa đời như muối, như men, như ánh sáng. Công đồng khuyến khích những người giáo dân tham gia chính trị để với đức tin và phúc âm, có thể góp phần xây dựng xã hội trần thế nầy tốt hơn, lành mạnh hơn.
5. Sứ điệp Cầu nguyện. ĐHY Nguyễn Văn Thuận còn cho chúng ta một kinh nghiệm sống Lời Chúa như sau: “Anh em hỏi tôi thích kinh gì. “Thành thật mà nói, ngài trả lời, tôi thích những câu kinh ngắn của Phúc âm như: “Họ hết rượu rồi!” (Ga 2,3). “Magnificat... Linh hồn tôi chúc tụng Chúa” (Lc 1,46-55). “Xin Cha tha cho chúng...” (Lc 23,34). “Con phó thác linh hồn con trong tay Cha... Cha ở trong con” (Gv 17,21). “Xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 18,13). “Khi ông vào nước của ông, xin thương nhớ đến tôi” (Lc, 23, 42-43). “Con tin vào hiệu năng của lời cầu nguyện không? Hãy suy lời Chúa: “Ta bảo các con: Hãy xin thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ gặp; hãy gõ thì sẽ mở cho” (Lc 11,9). Có công ty bảo hiểm nào bảo đảm cho các con chắc chắn hơn lời ấy không?” (ĐHV 121). “Con ngạc nhiên vì sao nhiều người mất ơn Chúa gọi, mất đức tin, phản Hội thánh? Trong bao nhiêu lý do, luôn luôn có một lý do chính: họ bỏ cầu nguyện từ lâu” (ĐHV 125). “Đừng xem thường việc đọc kinh, các Tông đồ đã thưa: “Lạy Thầy xin dạy chúng con cầu nguyện” (Lc11,1). Chúa Giêsu đáp: “Các con hãy cầu nguyện thế nầy: Lạy Cha chúng con ở trên trời...” (Mt 6,9). Chính Chúa dạy đọc kinh” (ĐHV 126). “Muốn đánh giá công việc tông đồ của ai, con hãy xem người ấy cầu nguyện thế nào” (ĐHV 132). “Nếu con không cầu nguyện, chẳng ai tin con làm việc vì Chúa đâu!” (ĐHV 133). “Sách thiêng liêng làm nhiều người nên thánh, đó là dầu nuôi lò lửa cầu nguyện” (ĐHV 145).
6. Sứ điệp Sám hối. Chúa Giêsu bắt đầu rao giảng Tin Mừng bằng việc kêu gọi sám hối: “Thời kỳ đã mãn, Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Sám hối là gì, nếu không phải là từ bỏ tội lỗi, từ bỏ xu hướng tội lỗi và tất cả những gì nghịch lại các giới răn và Phúc âm của Chúa? Ngày 24.2.1858, lần hiện ra thứ tám, Đức Mẹ kêu gọi: “Hãy ăn năn đền tội”. “Hãy cầu nguyện cho những người tội lỗi được ăn năn trở lại”. Đức Mẹ yêu cầu Bernadette đi bằng đầu gối và hôn đất để đền tội thay cho kẻ có tội. Đức Mẹ hỏi Bernadette có bằng lòng làm như Đức Me yêu cầu không? Bernadette trả lời: bằng lòng. Sự bằng lòng, tự nguyện, sự đặt tình yêu vào mọi công việc làm cho hành động của ta có giá trị thiêng liêng đẹp lòng Chúa. Ngày 25.2.1858, Đức Mẹ hiện ra lần thứ chín, Bernadette vâng lời Đức Mẹ uống một ngụm nước bùn trong vũng nước mà em mới vừa dùng tay mà moi cho nước chảy ra để đền tội cho những người tội lỗi. Bernadette phải bụm nước đục lên rồi bỏ đi đến lần thứ bốn nước mới hơi sạch một chút rồi mới dám uống. Đức Mẹ còn bảo Bernadette phải ăn cỏ dại gần đó, và em đã chấp nhận vâng lời Đức Mẹ để cầu nguyện cho kẻ tội lỗi ăn năn trở lại. Đức Mẹ cũng dạy đi tắm rửa trong nước từ nguồn nước mà Đức Mẹ cho vọt ra, để được thanh tẩy thể xác và tâm hồn.
7. Sứ điệp Đức Mẹ Lộ Đức Cha René Laurentin, một học giả nỗi tiếng thế giới về Đức Mẹ Lộ Đức. Ngài đã lục lạo tìm tòi trong các Văn Khố, các Bảo Tàng Thư để viết sách về Đức Mẹ Lộ Đức và phổ biến sứ điệp của Đức Mẹ. Ngài tóm sứ điệp Lộ Đức thành 4 điểm chính yếu sau đây và đề nghị thực hành (x R.Laurentin, Lourdes: Récit authentique des apparitions, Lộ Đức, trình thuật chính cống các lần hiện ra, P. Lethielleux, Paris 1966): a) KHÓ NGHÈO. Đức Mẹ chọn cô bé Bernadette mà mà người ta có thể bị “sóc” nếu xét theo cái nhìn của người đời. Có thể nói Bernadette là người rốt cùng theo sự khôn ngoan con người để mang sứ điệp của Đức Mẹ. Cô nghèo về mọi mặt: tiền bạc, sứ khỏe, học thức. Ngay cả giáo lý cũng kém bét. Mười bốn tuổi mà “không biết mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi”, chưa rước lễ vỡ lòng. Cảnh nhà nghèo quẫn bách em phải làm việc để nuôi sống, không có giờ đi học giáo lý, không ngóc đầu lên được, và dốt nát. Không phải tình cờ mà Đức Mẹ chọn em, vì Phúc âm đã nói: “Phúc cho những ai nghèo khó” (Mt 5,3). Đức Mẹ đã khám phá ra cách cụ thể cái nghèo khó Phúc âm nầy nơi Bernadette. Antoinette Tardhivail viết ngay trong khoảng thời gian Đức Mẹ hiện ra, ngày 29/3/1858: “Cha mẹ của em rất nghèo, họ không có gì cả... Họ nghèo, nghèo như Chúa chúng ta khi ở thế gian nầy, Đức Mẹ đã nhìn đến và chọn trẻ nầy hơn những người giàu; bây giờ những người nầy phân bì số phận của người mà trước đây họ nhìn với cặp mắt khinh thường...” Chỉ những người dân nghèo ở Lộ Đức bấy giờ là những người đầu tiên bị lôi cuốn và tin theo những lời của Bernadette. Vì thế, những người nghèo khó nhỏ bé không địa vị xã hội thường là những người dễ đón nhận Tin Mừng. Thời Chúa Giêsu, những người Pharisêu, những tiến sĩ, những luật sĩ không những không tin ở Lời Chúa, dù họ chứng kiến phép lạ Đức Giêsu làm. Họ cũng như người mù, nhìn mà không thấy, vì vậy mà Đức Giêsu nói một cách cực đoan quở trách họ: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin” (Mt 21, 31-32). Sống khó nghèo, yêu thương và giúp đỡ những người nghèo là một sứ điệp rõ nét mà nhiều người quên. b) CẦU NGUYỆN Lần đầu tiên Đức Mẹ hiện ra cho Bernadette, phản ứng tự nhiên của em là đưa tay vào túi lấy chuỗi tràng hạt; và làm dấu thánh giá. Cử chỉ nầy diễn tả hùng hồn nguồn gốc đạo đức đơn sơ bình dân của em, một em không ai thèm để ý đến trong xã hội, nhưng Thiên Chúa và Mẹ Maria đã để ý đến. Em chỉ biết lần hạt, lời kinh đơn sơ mà em biết, em không biết chiêm ngắm các mầu nhiệm trên trời. Các lần hiện ra sau đó đều bắt đầu bằng lần hạt. Và dần dần em chiêm ngắm thật, thấy thật bằng đôi mắt thật của em, chính Đấng mà em vẫn kêu xưng hằng ngày: “Kính mừng Maria”. Em đưa tay làm dấu thánh giá, nhưng tay em cứng nhắc không cử động nổi, Đức Mẹ thấy vậy, Đức Mẹ làm dấu thánh giá để em làm theo và em làm theo được. Chúng ta hãy nhìn Mẹ, kêu tên Mẹ và bắt chước Mẹ. Tập thói quen cầu nguyện một cách bộc phát bất cứ ở đâu và hoàn cảnh nào, vì cầu nguyện là sức sống của người Kitô hữu. ĐHY Nguyễn văn Thuận viết: “Cầu nguyện là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Lúc cầu nguyện, con nối liền, kết hiệp với Thiên Chúa. Bóng điện sáng nhờ nối liền với máy phát điện” (ĐHY 120). c) HÀNH HƯƠNG Lời cầu nguyện và thái độ của Bernadette khi nói chuyện với Đức Mẹ đã thu hút dân chúng. Ban đầu một nhóm nhỏ rồi dần dần đông hơn. Và những người nầy khám phá ra sự thúc bách cầu nguyện: họ bắt đầu cầu nguyện ở hang đá Đức Mẹ hiện ra, như có sức thu hút họ và họ cầu nguyện sốt sắng như chưa bao giờ sốt sắng như vậy. Trước đây họ hà tiện thì giờ khi phải làm việc đạo đức và đọc kinh, thì giờ đây họ không còn tiếc thời giờ nữa. Ước muốn được chứng kiến phép lạ, tìm chỗ tốt để có thể thấy Đức Mẹ, thức đẩy họ đến hang đá sớm hơn, bỏ ngủ, và rồi họ sáng kiến chia phiên cầu nguyện ban đêm. Thì ra do Đức Mẹ thúc đẩy bên trong, họ đã làm chính điều mà Chúa Giêsu đã dạy: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện”. Người ta khám phá lại nhu cầu đi hành hương, khi đi đường người ta lần hạt, hát thánh vịnh, đọc kinh cầu, v.v. Đi hành hương đến một nơi thánh để gặp Thiên Chúa. Đức Yaveh đã nói với Abraham: “Hãy rời xứ sở của ngươi, gia đình ngươi, nhà cha ngươi để đến xứ mà Ta sẽ chỉ cho” (St 12, 1-2). Bỏ nhà ra đi có nghĩa là cắt đứt các thói quen tầm thường sà sà sát đất để đi vào con đường đòi hỏi quên mình, hy sinh và từ bỏ để hướng lên. Đi về đất thánh làm nẩy sinh ý nghĩa cánh chung và hy vọng, thiết yếu của sự cầu nguyện. Ngày 24/2/1858, lần hiện ra thứ tám, sau thời gian người ta cầu nguyện, Đức Mẹ đánh tan sự thinh lặng để nói cho một sứ điệp: “Hãy cầu nguyện cùng Chúa cho người tội lỗi”. Nhà nguyện. Ngày 2/3/1585, lần hiện ra thứ 13 Đức Mẹ nói với Bernadette: “Con hãy nói với các linh mục rằng người ta phải đi kiệu và phải xây ở đây một nhà nguyện”. Đức Mẹ bảo nói với “Các linh mục”, chứ không phải “với Cha sở”. Các linh mục có nghĩa là số nhiều, là phẩm trật Giáo hội, là Giám mục. Cha sở Lộ Đức bấy giờ hiểu rõ điều đó: Điều Đức Mẹ yêu cầu vượt quá thẩm quyền của cha sở. Đức Mẹ muốn đặt nền móng việc xây cất thánh đường cho phẩm trật Hội thánh. Vì vậy đã hình thành việc đi kiệu Thánh Thể sau trưa và kiệu Đức Mẹ chiều tối do giáo quyền tổ chức. Chúng ta cũng phải xác tín rằng Chúa Kitô đã lập Giáo hội có phẩm trật (Phêrô đứng đầu), chúng ta không thể trưởng thành trong đức tin, đức cậy và đức ái ngoài Giáo hội và ngoài sự phục tùng giáo huấn và quyền bính của phẩm trật Giáo hội. Thánh Thể. Đức Mẹ yêu cầu xây cất tại Lộ Đức một nơi thờ phượng, để cho lời cầu nguyện được tháp nhận vào chính đời sống của Giáo hội, với phụng vụ mà tột đỉnh là Thánh Thể. Vì chính trong hy tế của Chúa Giêsu mà lời cầu nguyện của con người có giá trị trước mặt Thiên Chúa Cha. Những ngày đầu khi Đức Mẹ hiện ra, dân chúng bổn đạo tìm sự sống thiêng liêng và sự hiệp nhất trong biến cố hiện ra. Chỉ có Thánh Thể mới có thể đáp ứng nhu cầu nầy, và người ta chỉ có thể tìm gặp Thánh Thể trong Giáo hội do Chúa Giêsu thành lập. d) SÁM HỐI VÀ ĐỀN TỘI Sứ điệp đền tội liên quan đến sứ điệp cầu nguyện. Lần hiện ra thứ 15 là ngày 14/3/1858, chính vào thời gian phụng vụ bắt đầu mùa Chay. Trước đó, lần hiện ra thứ ba (18/2/1858), Đức Mẹ nói với Bernadette: “Mẹ không hứa cho con được hạnh phúc ở đời nầy, nhưng ở đời sau”. Ngày 24/2/1858 Đức Mẹ bảo Bernadette hôn đất để đền tội cho người tội lỗi... để cho tội nhân được sám hối”. Đền tội và sám hối là hai từ luôn xuất hiện trong Kinh thánh, là: hành động do đó con người xoay lưng lại với tội để trở về Thiên Chúa (tiếng latinh: convertere) với tâm hồn đau xót vì các hành động xấu mình đã làm. “Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi đất và sẽ trở về bụi đất”. Hành độâng hôn đất dơ bẩn là hành động hèn hạ, nhưng nó đưa làm người ý thức đúng thân phận mình. “Ta không hứa cho con được hạnh phúc ở đời nầy, nhưng ở đời sau”. Hạnh phúc đời nầy do vật chất đem lại là thứ hạnh phúc phù du, đừng chạy theo nó và bám lấy nó như mục đích cuối cùng của cuộc sống hiện tại. 7. Sứ điệp và gia của các Thánh Tử đạo. Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận viết: “Trong tù, chính tôi cũng sống nỗi khổ đau của Giáo hội tử đạo. Tôi nghe thời gian đi qua, ngày này sang ngày khác mà không biết chung cuộc sẽ đi về đâu. Tôi tự hỏi như ngôn sứ Isaia: “Tuần canh ơi, đêm còn dài bao lâu nữa? Tuần canh ơi, đêm đến đâu rồi?” (Is 21,11). Trong những lúc đó tôi bắt đầu hiểu rõ ý nghĩa của sự tử đạo. Không phải sự tử đạo đổ máu, là điều tôi biết có thể xảy ra trước mắt tôi, nhưng sự tử đạo như là một cuộc sống không đặt để ranh giới kể cả ranh giới việc bảo tồn sự sống của chính mình, vì tình yêu đối với Thiên Chúa, vì trung thành với hiệp nhất và niềm hiệp thông với Giáo hội, và vì phục vụ Tin Mừng. “Người Kitô hữu không khinh rẻ mạng sống... nhưng đức tin của tôi thì không thể bị trả giá được. Không với bất cứ giá nào. Không thể nhượng bộ đức tin để đổi lấy một cuộc sống hạnh phúc. Xem ra tôi hiểu hơn một chút về sự tử đạo. Không đặt ranh giới cho tình yêu đối với Thiên Chúa, kể cả ranh giới tự nhiên như ơn cứu rỗi của mình, mạng sống và niềm hạnh phúc của riêng mình. Và trong những lúc ấy tôi nghĩ tới bao nhiêu Kitô hữu bị giam giữ, đau khổ và đày ải. Tôi nghĩ đến những người gánh chịu những khổ đau lớn lao. Tôi nhớ lại những lời viết trong chương 12 gửi giáo đoàn Do Thái: “Anh em chưa chiến đấu đến độ đổ máu trong cuộc chiến chống lại tội lỗi” (Dt 12,4). “Tôi tin rằng lòng trung thành của Giáo hội Việt Nam được giải thích bằng máu của các vị tử đạo đó. Các ơn gọi linh mục tu sĩ làm phong phú Giáo Hội Việt Nam được phát sinh từ ơn thử thách nầy. Các vị tử đạo dạy cho chúng ta biết nói hai tiếng “xin vâng”: xin vâng vô điều kiện và vô biên giới đối với tình yêu của Thiên Chúa... Gia sản của các vị tử đạo không phải là chí anh hùng mà lòng trung tín. Gia tài nầy đã được chín mùi bằng cách hướng nhìn lên Chúa Giêsu, mẫu gương của cuộc sống Kitô hữu, mẫu gương của mọi nhân chứng, mẫu gương của tất cả các vị Tử đạo” . “Chúng ta phải ôm lấy gia sản quý báo của các vị Tử đạo trong cuộc sống mỗi ngày, trong các khó khăn bé nhỏ cũng như lớn lao, trong sự lột bỏ mọi gây hấn, thù hận, và bạo lực. Gia sản của các vị Tử đạo phải được tiếp nhận mỗi ngày qua cuộc sống đầy yêu thương, hiền lành và trung tín. Tu sĩ Isac Siro đã viết: “Hãy để cho mình bị bách hại, nhưng đừng bách hại ai. Hãy để cho mình bị vu khống, nhưng đừng vu khống ai” (ĐHY Nguyễn Văn Thuận, sđd 138-148).
***** “Totus Tuus”, Tất cả cho Mẹ, là khẩu hiệu của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, cũng phải là khẩu hiệu của chúng ta. Mẹ Maria đã cứu Đức Gioan Phaolô II thoát chết dưới viên đạn mà tên khủng bố Ali Agca đã bắn vào Ngài tại quảng trường Thánh Phêrô ở Rôma ngày 13.5.1981 lúc 17g19, đúng vào ngày kỷ niệm Đức Mẹ hiện ra lần thứ nhất tại Fatima. Ngày 13.8.1982 Đức Thánh Cha đi hành hương Fatima để “cám ơn” Đức Mẹ đã thương can thiệp cứu sống Ngài và ngày 26.6.2000 Giáo hội công bố “Bí Mật Thứ Ba của Fatima” trong đó Lucia nói đã thấy “một Giám Mục mặc áo trắng” bị ám sát. Giám mục áo trắng đó là Giáo Hoàng: Giáo Hoàng Wojtyla, Gioan Phaolô II. Như vậy “Bí Mật Thứ Ba” của Fatima đã được công bố, không còn bí mật nữa, không còn bí mật nào khác nữa. Trước đó, ngày 25.3.1984, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II dâng thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, một hành động chưa từng có trong lịch sử: một vị Giáo Hoàng làm một hành động công cộng, trên bình diện Giáo Hội toàn cầu, theo lời yêu cầu của một người được thị kiến. Chúng ta cần sống thân mật với Mẹ Maria, tin tưởng ở tình thương của Mẹ, thường xuyên nhớ đến Mẹ, giữ liên lạc tốt với Mẹ, kêu cầu Mẹ, tâm sự với Mẹ về tất cả những vui buồn của cuộc sống. Thánh Maximilen Kolbe khuyên chúng ta: “Ta phải năng nói chuyện với Mẹ, ngồi dưới chân Mẹ, nghe Mẹ dạy ta, cách đặc biệt: xin Mẹ dạy ta làm thế nào chinh phục nhiều linh hồn hơn, làm cách nào để Mẹ ngự trị trong các linh hồn trọn vẹn hơn” (F.X. Nguyễn Văn Thuận, Sứ điệp Cha Thánh Maximilien Kolbe, 1982, tr. 70). Thánh Grignon Maria Monfort nói: “Thánh Augustinô gọi Mẹ là khuôn đúc nên các thánh. Ai được hạnh phuc đúc trong khuôn nầy, thì chẳng bao lâu sẽ nên giống hình ảnh Chúa Giêsu. Chính trong khuôn nầy, Ngôi Hai Thiên Chúa đã được đúc thành hình một nhân vật đặc biệt: Thiên Chúa Nhập Thể. Các linh hồn biết tín nhiệm vào Mẹ Maria để nhờ Mẹ Maria đúc thành hình Chúa Giêsu trong mình” (Grignon Maria Monfort, Thành Thực Sùng Kính Mẹ Maria, số 220). Để kết thúc, xin gửi đến toàn thể Đại hội và từng người lời khuyên sau đây của Thánh Bernard: “Khi nguy hiểm, lo âu, hay hồ nghi, bạn hãy nghĩ đến Mẹ Maria và hãy gọi Người. Theo Mẹ, bạn sẽ không bao giờ lạc đường. Cầu nguyện với Mẹ, bạn chẳng bao giờ chìm trong tuyệt vọng. Nhìn ngắm Mẹ, bạn sẽ chẳng lầm lạc bao giờ (Mary day by day, Catholic Book Publishing Co, New York 1987, tr. 21).
Lm. Banabê Nguyễn Văn Phương 
|
 |
 |
|