KHỐI U TIỀN LIỆT TUYẾN (hypertrophie bénigne de la prostate)

Bệnh này thường được thấy ở nam giới, lớp tuổi ngoài 50.
Một chứng bệnh nay đang được đề cập đến nhiều qua các báo chí y khoa, vào khoảng trên dưới mười năm gần đây.
Theo thống kê thu thập qua nhiều quốc gia, số người mắc phải chứng này lên rất cao, và tuổi càng cao, chứng bệnh lại càng gia tăng.
Hỏi: Khối u tiền liệt tuyến là gì (adénome de la prostate)?
Đáp: tiền liệt tuyến (prostate), là giải tuyến tinh khí ở nam giới (glande sexuelle masculine) bao quanh khúc đầu niệu đạo (urètre) mà trong đó có bọc ống dẫn tinh (canaux éjacula-teurs), nằm phía dưới cổ bọng bàng quang (col vésical) và ngay phía trước trực tràng (rectum). Nó mang hình thù như hạt dẻ (châtaigne) cân nặng cỡ chừng 15 đến 20 gờ-ram.
Hỏi: sự ích lợi của giải tuyến này ở giới nam nhi?
Đáp: Tuyến tiền liệt (prostate) và túi tinh (vésicules séminales) thuộc về tuyến phụ tinh khí nam (glandes séminales) dự phần đóng góp trong công việc hoàn thành dịch tương (plasma séminal) và từ đấy sẽ cho tinh dịch (sperme).
Hỏi: tại sao bị khối u (adénome) thường chỉ thấy vào lớp tuổi cao niên 60, 70?
Đáp: theo con số ước tính mới đây, tỉ lệ số người vào lớp tuổi này chiếm tới 50%, và cho đến 80% khi tuổi ngoài 80. Theo một vài dịch vụ nghiên cứu mới đây cho hay, dân tộc da trắng, da đen, so sánh với số người mắc chứng bệnh này thì tương tự ngang nhau, riêng dân tộc da vàng thì ít bị. Ngược lại người da vàng sanh sống lâu năm ở các quốc gia âu châu, thì cho thấy con số mắc phải có phần gia tăng, nhưng vẫn theo sở nghiên cứu, ta nên cẩn thận khi phân tách vì còn nhiều yếu tố khác liên hệ. Phải chăng cách ăn uống có khả năng ảnh hưởng đến chứng bệnh này? Người dân Nhật bản thường dùng sữa, các thực phẩm đồ hộp, nhưng lại ít dùng các loại rau cỏ tươi, cho thấy con số người bị mắc phải vượt lên rất cao. Vẫn theo lời tường thuật của dịch vụ sở nghiên cứu, tình trạng kích thích tố (état hormonal) đã đóng một vai trò chính yếu, vì rằng những người bị thiến, bị hoạn (castrat) không hề bị mắc phải chứng bệnh này.
Hỏi: Nguyên nhân tại sao?
Đáp:
a) Tây phương: cho đến nay theo giải thích tây phương, các nhà nghiên cứu không bíết nguyên do từ đâu gây ra, nhưng một điều hầu như chắc chắn là do dưới sự kiểm soát của hocmon nam (hormones) do tinh hoàn bài tiết. Tuổi càng cao, tỉ lệ mắc bệnh càng gia tăng.
b) Bên phương đông: quan niệm rằng, khi cơ thể về già yếu, tất cả các hoạt động bộ máy sinh dưỡng (métabolisme) đều kém dần đi, khí huyết lưu thông trở nên chậm chạp, tạng phủ hoạt động kém năng xuất không thể cung nạp và đáp ứng theo nhu cầu của con người. Các y gia thời xưa đã am hiểu được điều này và xét rằng thận, một trong ngũ tạng rất quan trọng, là gốc của tiên thiên, là tạng chứa tinh, cũng là tạng của hậu thiên, tư dưỡng tạng phủ và các tổ chức toàn thân. Thận chủ thủy, thủy dịch đi xuống từ thận, thận là cơ quan trọng yếu điều tiết thăng bằng thủy dịch, thức đục do khí hóa của thận và do bàng quang bài tiết ra ngoài, thứ trong (pur) giữ lại, thứ đục (impur) lọc ra. Do đó thận đóng một vai trò liên hệ trực tiếp với sự bài tiết thủy dịch. Ngoài ra, mạch đốc cũng kém suy theo tuổi già. Khởi đầu là dương khí hư, tinh huyết thiếu, thận và mạch đốc suy kém không thể quản đốc được dương khí của toàn thân do đó mà cơ thể, khí huyết bị ứ đọng lại tạo ra nhiều chứng như khối u tiền liệt tuyến và gây ra chứng lung bế (bí đái). Chứng lung bế cũng có thể do bại tinh (épuisement de jing) gây nên v.v.
CÓ NHỮNG TRIỆU CHỨNG GÌ?
Những loạn chức năng (troubles fonctionnels) thường thấy: tiểu đêm nhiều lần, tiểu ngày vô kể, tiểu vặt, tiểu nhắt, tiểu gắt, tiểu nhỏ giọt, tiểu són, tiểu buốt, tiểu không tự chủ, cũng gọi là tiểu tiện bất cấm (miction impérieuse), tiểu tiện lâm lịch là chứng tiểu nhiều lần, lượng ít và khó khăn (pollakiurie). Tiểu bí, tia vòi nước tiểu kém và không thông (jet faible et saccadé). Nói chung, tiểu tiện bất lợi (dysurie), các y gia ngày xưa, gọi là chứng lung, cũng gọi là lung bế.
Có những trường hợp kèm theo chứng dương nụy, có nghĩa là dương vật không cương hoặc cương yếu, không có khả năng giao hợp, không phóng tinh được (impotence sexuelle) do đó trong sự đi lại giữa vợ chồng bị suy kém dần.
Hỏi: khi có những triệu chứng kể trên, phải làm những gì?
Đáp: phải đi khám Bác sĩ
KHÁM NGHIỆM:
* Thăm hậu môn (toucher rectal) cho biết tình trạng lớn nhỏ, cứng mềm, trơn tru hay sần sùi v.v. của tiền liệt tuyến.
* Chụp quang tuyến (échographie rénale, vésicale ou prostatique) tùy từng trường hợp khả nghi để dò thăm tình trạng của thận, đo lường lượng khối u và xem lượng nước tiểu còn ứ đọng lại trong bàng quang (résidu vésical post-mictionnel)
* Thử máu: PSA (antigène prostati-que spécifique) trường hợp khả nghi và xem kết quả của chất créatininémie để tìm những gì phát hiện của ung thư (dépistage).
* Sinh thiết (biopsie) nếu có khả nghi và cũng trong chiều hướng thăm dò đó.
*Thử nước tiểu, v.v.
Chữa Trị
-Tây phương
* Thuốc: chữa trị chỉ khi nào có triệu chứng mà thôi và tùy sự định liệu của y-sĩ
-a) Liệu pháp thực vật (phytothé-rapie) như: pygeum africanum, serenoa repens, hay ortie dioĩque, v.v.
-b) Inhibiteur de la 5-alpha-réduc-tase như: finastéride v.v.
-c) alphabloquants như: afluzosine, doxazosine v.v.
* Giải phẫu chỉ áp dụng cho những trường hợp nặng bất khả kháng và phương hại đến thận và bộ phận tiết niệu phần trên
-Đông phương
* Một vài phương dược chính thường được dùng tới như:
- Chữa trị sưng tấy tiền liệt tuyến ở người cao tuổi, dược vị gồm có:
Nấm hương (Lentinus Edodes), Nấm linh chi (Ganoderma Lucidum), còn gọi là nấm trường thọ (champignon d'im-mortalité) hay nấm lim, cũng gọi là thuốc thần tiên, hay là linh chi thảo, Mộc nhĩ,còn gọi là nấm tai mèo (Auriculariaceae) v.v.
Hoặc phương thang với dược vị chính gồm có: Cam thảo (Radix Glycyrrhi-zae), Hoàng bá (Cortex Phellodendri), Hoàng kỳ (Radix Astragali), Nhục quế (Cinnamomum), Tri mẫu (Rhizoma Anemarrhenae), có tác dụng, bổ mạnh trung khí, tư thận,thông quan, chống phù sưng, trị bàng quang không khí hoá được gây nên tiểu bí, tiền liệt tuyến có khối u.
Hay công thức với dược vị chính gồm có: Bạch quả (Ginkgo Biloba), Cam thảo, Đảng sâm (Radix Codonopsis), Hoàng kỳ, Liên tử (Nelumbonaceae), Ngô thù du (Fructus Evodiae), Nhục quế, Nhục thung dung (Herba Cistan-ches- Caulis Cistanchis), Phục linh (Poria Cocos) v.v. có tác dụng ích khí, kiện tỳ, ôn bổ thận dương, trị tỳ thận đều hư, tiền liệt tuyến có khối u kèm tiểu bí, v.v.
Nhân sâm (Radix Ginseng), tăng cường năng lực trung tâm sinh hệ thần kinh, bổ mạnh khí huyết. Bạch truật (Rhizoma Atractylodis Alba), chống sưng phù (Sdème) đàm giải. Ích tri nhân (Fructus Alpiniae Oxyphyllae) chống đái vãi (incontinence d'urines), đái dầm (énurésie), v.v.
* Châm cứu: Một vài huyệt chánh dưới đây thường mang lại kết quả khả quan.
-Mệnh môn, Thận du, Quan nguyên để ôn bổ thận suy kém,
-Thượng liêu, Trung liêu trường hợp bị sung huyết (congestion) làm nghẽn đường tiểu (bí đái)
-Trung cực, Trung liêu để giảm bớt tuyến tiền liệt bi phì trướng (hypertro-phie),
-Bàng quang du và huyệt Trung cực để giảm hạ chứng lâm lịch (năng tiểu, lượng ít và đi khó khăn), hoặc đái són... nói chung là chứng lung bế. v.v.
KẾT LUẬN
Một chứng bệnh của giới mày râu ở lớp tuổi cao niên thường ngoài lục tuần.
Thực ra, khối u tiền liệt tuyến, không phải là bệnh, cũng chẳng phải là tật, mà như ta thường gọi là “bệnh tuổi già” (décrépit), thứ nữa, khi mà không có triệu chứng nào đáng kể, hay mang chứng bệnh nào thực thọ, thì ta chớ nên quấy nhiễu phiền hà họ với thuốc thang rầm rộ hay dùng đến giải pháp giải phẫu quá đáng, hầu để tránh bớt những hậu chứng (effets secondaires) khó lường, mà chứng liệt dương là mối lo ngại đáng kể trong tình nghĩa vợ chồng. Với phẩm dược tân kỳ, với kĩ thuật tối tân, với những phát minh vượt bực hiện đại, ta nên thận trọng, dè dặt vì rằng chẳng có thần dược hay đũa thần nào có thể thay đổi bộ máy kỳ diệu của con người được. Các y gia thời xưa có nói, ta nên “bổ những gì hư, tả những gì thực” tùy theo tiềm lực (potentiel) của mỗi cá nhân mà áp dụng. Muốn đạt được điều ấy, thiết tưởng với đường lối chữa trị bằng cách phòng ngừa (traitement préventif) là điều thích hợp và chính yếu. Ý thức được nguyên nhân của sự sa sút suy kém của giải tuyến tiền liệt, việc làm đầu tiên của người thầy thuốc là chăm bón, bồi bổ khí lực tiềm năng của thận. Thận, theo quan niệm cổ Y, một trong ngũ tạng tối ư quan trọng, đặc biệt trong giới nam là tạng chứa tinh, và chức năng là quản đốc dương khí của toàn thân, trong đó tuyến tiền liệt (prostate) tượng trưng cho một trong những bộ phận tối ư quan trọng, sánh với tử cung, một trong những phủ kỳ hằng (entrailles curieuses) của giới nữ. Vậy ta thường có câu: "Ngừa bệnh hơn chữa bệnh".